ĐỪNG CHẢY SÔNG ƠI- truyện ngắn của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( tiếp theo và hết)
Truyện ngắn Trackbacks (0)
góp ý (45)
ĐỪNG CHẢY SÔNG ƠI
(Để tưởng nhớ những người thân
trong gia đình tôi nhân Giáng sinh 2009)
O
Truyện ngắn của
NGUYỄN ĐỨC THIỆN
( Tiếp theo và hết)
Từ lâu rồi, đầu cầu Trà có một quán bán nước chè tươi. Xứ vùng xuôi như thế này có người bán nước chè tươi là hiếm lắm. Bà bán nước chè là một người đôn hậu. Bà không mấy khi cười với khách hàng nhưng nét mặt bà lúc nào cũng có cái vẻ vui vui, dễ gần. Thường thì khoảng bốn giờ sáng bà thức dậy đặt lên bếp ấm nước. Có lẽ vào thời điểm đó mà nấu nước bằng ấm đất như bà là hiếm lắm. Chiếc ấm đất có lẽ có từ lâu lắm rồi. Khói rạ đã làm nó đen thui. Bà ngồi bên bếp lửa, tay cời, tay đẩy, giúp cho ngọn lửa cháy đều, không lớn, cũng không nhỏ. Miệng bà tóp tép miếng trầu. Nồi nước sôi, bà mới vò những lá chè xanh đã được rửa kỹ bỏ vào những bình tích. Nước đang sôi ùng ục, bà bắc ra tưới nhẹ vào lớp chè trong bình tích. Hương chè tỏa ra thơm ngào ngạt. Bà nhắc cái bình tích lên, chắt nước đầu ra một cái bát ô tô, sau đó mới đổ lượt nước sôi khác vào bình. Bà pha hai ấm như thế, mỗi ấm chứa khoảng năm lít nước. Bà đổ một nồi nước khác đặt vào bếp, nhưng không đặt lên kiềng,mà hạ xuống, lấy rạ ủ xung quanh và đốt lên. Nồi nước này để dự phòng, bán gần hết hai bình kia, bà mới nổi lửa cho chóng sôi, không để khách phải chờ lâu. Nước tráng chè, bà cũng không đổ đi mà rót vào một cái bình khác. Những người qua đường không thích nước chè, bà rót cho người ta mà không tính tiền.
Cái chõng nhỏ bán nước chè của bà chỉ có hai cái giỏ ủ bình tích, mấy cái bình thủy tinh trong đó có kẹo vừng, kẹo lạc, kẹo gôm, lạc rang húng lìu. Tất cả những thức đó bà gởi người ta đi chợ mua giúp không tính tiền lời. Không thiếu một rổ khoai lang luộc theo kiểu nhà quê, có nghĩa là bỏ vào nồi đồng, đổ thực ít nước, nấu sôi lên rồi quần trong đống tro nóng. Chừng năm giờ sáng, mùa đông cũng như mùa hè, bà đã ra ngồi bên cái chõng bán nước. Khách của bà là những người ra làm đồng sớm. Họ ghé lại quán của bà uống vài bát nước chè xanh, ăn mấy củ khoai lang lót dạ trước khi xuống đồng. Nhiều người uống nước chè của bà thành nghiện. Sáng ra không có bát chè xanh của bà là suốt ngày cứ thấy thèm thèm một cái gì đó. Có người kể rằng có một ông kia đi coi cho vợ đẻ. Những lúc lo lắng thì không sao. Khi cô vợ sinh rồi cứ thấy ông ngồi đâu là ngáp đấy. Không chịu được , ông đạp xe ra quán chè của bà uống một hơi ba bát nước chè, thế là ông ta tỉnh táo hẳn lên. Chuyện nghe như hoang đường. Nhưng sáng ra người ta ghé quán nước của bà thành thói quen là có. Bà năm đó chừng hơn năm mươi tuổi. Bà bán chè xanh ở đầu cầu Trà từ lúc tóc còn xanh, môi còn đỏ và nụ cười còn duyên. Nên vào thời điểm đó không thiếu gì người đến uống nước chè hơi lâu và bóng bẩy đưa lời dạm ý. Nhưng bà không trả lời ai, không theo ai đi hội làng. Bà ở một mình cho đến tận sau này. Hơn năm mươi mà bà còn dáng vẻ của ngày xưa mặn mòi con gái xứ quê. Chỉ khác, bà bắt đầu nhai trầu. Đời cha đến uống nước quán bà, sau này đến đời con cũng đến uống nước chè xanh quán của bà, như một lẽ tự nhiên. Chỉ khoảng sáu giờ là cùng, những người khách cuối cùng của buổi sáng đã hết.Trên cánh đồng trước mặt lố nhố người làm, thì quán bà trở nên vắng tanh. Phải chờ lúc nắng gần đứng bóng mới lại có người đến uống nước. Cũng là những người lúc sáng. Sớm mai khi họ đến thì tươi tắn, mạnh bạo và linh hoạt. Nhưng đến trưa, người nào, người nấy lấm lem bùn đất, mồ hôi ướt đẫm áo quần và gương mặt thì mệt mỏi. Lại bát nước chè xanh nóng hổi, thơm ngát và đậm đà giúp họ lấy lại sắc thái trên gương mặt. Buổi trưa thì nước chè xanh và kẹo vừng , kẹo lạc. Ăn rồi, họ gói mấy cái mang về làm quà cho lũ nhỏ.
Sáng nay, khi người khách cuối cùng đã ra khỏi quán, bà lại vào bếp chuẩn bị cho bán giấc trưa. Nhưng vùa lúi húi lên lửa thì nghe như tiếng có người ghé quán. Bà bước vội ra. Đó là một người đàn ông dong dỏng cao, ánh mắt linh lợi, mái tóc hớt cao và trên miệng có một nụ cười dễ mến .
- Thưa bác , bác dùng gì ạ?- Bà mềm mỏng hỏi .
- Bà cho tôi bát nước .
Bà mở cái ấm giỏ ra, rót một bát nước. Bát nước cuối ấm sóng sánh như bát mật ong. Bà đặt bát nước trước mặt ông khách. Ông khách không đón bát nước mà cứ nhìn bà chăm chăm. Bỗng ông la lên :
- Chị Tươi. Chị là chị Tươi có phải không ?
Bà thoáng giật mình. Lâu lắm rồi không ai gọi tên bà. Người ta gọi bà bằng cái tên bà chè xanh cầu Trà. Cái tên này thành danh cho một địa điểm không thể thiếu cho những ai đi ngang qua đây. Nay có người gọi đúng cái tên của bà. Nhưng là ai. Bà ngập ngừng hỏi :
- Vậy chứ bác là ai mà biết tên tôi ?
- Lạy Chúa tôi. Chị không nhận ra em sao. Thằng Niệm đây mà. Thằng em chồng hụt của chị đây mà.
- Vậy bác là em ông Khoát ?
- Vâng. Em con chú, con bác ruột .
- Giêsu ma lạy chúa tôi .Mấy chục năm rồi làm sao tôi nhớ .
Họ xoắn xuýt hỏi thăm nhau, chuyện nhà cửa, chuyện làm ăn, chuyện con cái. Nhắc đến chuyện con cái ,bà Tươi có vẻ buồn. Nhưng rồi bà bình tĩnh lại ngay. Bà nói:
- Cái duyên của tôi với anh Khoát không thành cũng là do Chuá sắp xếp cả.Tôi đâu dám trách. Nhưng chú –bà đổi cách xưng hô- có biết ông Khoát bây giờ ra sao không. Tôi nghe ông ấy về Hà Nội từ hồi đánh Pháp phải không?
- Dạ phải. Anh ấy dinh tê ,phải trốn lên Hà Nội ở. Lúc giải phóng Hà Nội, anh ấy đi Nam rồi. Chẳng có tin tức gi cả .
Ông Niệm tần ngần ngồi nhìn bà Tươi. Ông đang hình dung ra cô Tươi ngày xưa trong ca đoàn nhà thờ. Giữa bao nhiêu giọng hát, người ta vẫn nhận ra giọng hái trong vắt của cô. Anh đốc tờ chưa tốt nghiệp mỗi lần về đi lễ say cô như say đọc kinh khi sám hối. Họ hẹn hò nhau. Anh về xin với bố mẹ cho được lấy cô làm vợ. Nhưng bố mẹ anh không cho và để tránh đi những hậu họa do trai gái mê say nhau. Bố mẹ ông hỏi ngay con gái ông chánh trương và đưa đến nhà thờ làm lễ cưới ngay. Hồi đó làm gì có chuyện cãi cha cãi mẹ trong đường tình duyên. Nhất là trong một xứ đạo còn rất mới. Đám cưới xong, anh đi học tiếp. Còn cô Tươi, biết cô có hẹn hò với anh đốc-tơ chưa thành tài, ông bố cô đã đánh cô một trận thừa sống thiếu chết, cũng biến mất khỏi xứ Thái Bình. Nghe tin cô sang Bùi Chu xin vào nhà tu, làm nữ tu sĩ .
- Tôi không tu được. Hình ảnh anh Khoát không làm sao ra khỏi tâm trí của tôi. Tu mà như thế là có tội với Chúa. Tôi xin ra và đến cầu Trà này mở quán nước .
Bà Tươi nói vậy với ông Niệm, giọng buồn buồn, nhưng không có nước mắt. Bà hỏi:
- Nhưng hôm nay chú đến đây có việc gì vậy ?
- Chết, gặp chị mừng quá tý nữa em quên. Em hỏi chị, gần đây có cái bãi hoang chăn vịt nào không?
-Có. Chú tính về đây nuôi vịt sao. Bãi ấy bỏ hoang lâu rồi đấy. Chú đến xin với Hợp tác xã nhận mà làm.
- Không em không nuôi vịt. Nhưng em nghe người ta nói ở bãi chăn vịt ấy có ma phải không chị .
- Là người công giáo mà chú cũng tin là có ma sao. Nhưng cũng có chuyện đấy. Để tôi kể chú nghe .
Đó là bãi lầy nằm sát bờ sông. Cánh đồng lúa nằm phía bên trong. Muốn đến bãi lầy kia phải qua thêm một cánh đồng cói rộng mênh mông nữa. Từ xưa đến nay, cũng có một vài người đến chăn vịt trên bãi, nhưng không hiểu sao, vịt nuôi ở đó mà không lớn, không sai trứng như những nơi khác. Nên họ bỏ. Một hôm ,nhà trong xóm có một đám cưới. Một đám cưới nghèo chưa từng thấy ở đất này. Cả hai gia đình chỉ làm thịt có một con gà để kính các cụ trong làng. Còn bà con hàng xóm, chỉ được mời đến uống nước chè, ăn kẹo vừng mà thôi. Cưới xong hai trẻ cũng không ra ở riêng được. Mà ở chung với nhà chồng thì không tiện. Nhà bé bằng cái chuồng gà. Năm bẩy đứa em sàn sàn ngủ lăn lóc trên nền nhà. Có một cái chõng tre duy nhất dành cho bố mẹ chồng. Hai đứa không còn cách nào khác đành xin làng ra ở ngoài dệ sông, nơi có cái đầm lầy kia. Ông bố vợ gom nhặt cũng cho hai đứa được vài chục con vịt con. Người trong làng cho ít cây tre. Hai đứa cố cắt rạ trong vài ngày, và cuối cùng cũng làm được một cái chòi ngoài đầm lầy. Khổ một nỗi, từ bữa cưới đến bữa xong lều, hai đứa trẻ không được gần nhau. Đêm đầu tiên, không biết chúng loay hoay thế nào mà căn lều xụp đổ. Người làng kháo nhau ngay: tại chúng không cúng thổ công, nên thổ công không độ, cho ma quái giật đổ nhà tụi chúng. Nhưng đổ thì đổ, chúng không còn cách nào khác, nên lại dựng lều lên ở nữa. Cái lều đúng ra có thể che đủ cho hai đứa ngủ. Nhưng nghe đồn, hai đứa hoảng không dám ngủ chung nữa. Muốn tạ thổ công cũng phải có tiền chứ. Trong túi chúng rỗng không. Ban ngày đi mót được vài hạt lúa, giã chậm chuội ra. Lội bùn ngoài sông kiếm con cua con ốc sống qua ngày, lấy gì mà tạ. Thôi đành chịu cảnh cách một bức vách. Con vợ nằm trong lều, còn thằng chồng thì quấn ổ ra nằm ngoài. Cấm chuyện yêu đương chờ khi nào tạ thổ công rồi mới được gần nhau. Những bữa mưa, rét thì rút rạ làm thêm tấm tranh che tạm.
Một đêm kia, trời sáng trăng suông. Ánh trăng bàng bạc phủ lên đầm lầy một mầu bàng bạc. Mặt sông cũng lặng như tờ. Sương đêm buông xuống lạnh lẽo. Trong lều, con vợ chắc đã ngủ say. Bầy vịt ngoài chuồng không xao xác nữa. Thằng chồng không ngủ được vì lạnh. Tấm áo vá chằng vá đụp không đủ làm cho nó ấm và cũng không che được hết cơ thể nên những cọng rạ cứ chọc vào rát rạt. Nó rúc sâu vào đống rạ, nhưng chỉ một lúc sau, ngợp thở nó lại phải thò cổ ra. Lúc đó chắc cũng đã khuya. Thêm một lần nữa thằng chồng vạch ổ rạ thò cổ ra ngoài. Đột nhiên, nó thấy ở ngay cạnh vách lều có một khoảng đen khác thường. Khoảng đen đó cứ di chuyển qua lại, giống như cái bóng người. Ban đầu, nó tưởng kẻ trộm. Nhưng lều của nó có gì mà trộm. Vả lại không hề nghe tiếng bước chân, không hề thấy hình hài con người, mà chỉ là cái bóng. Nó há hốc mồm sợ hãi. Càng sợ hãi hơn khi bỗng thấy có một bàn tay trắng bạch, nổi hằn trên cái bóng đêm, bám vào cái lỗ chừa làm cửa sổ. Nó toan la lên, nhưng chợt nghĩ đến vợ, nó lại thôi. Nhưng cổ nó nghẹn cứng lại khi thấy thêm một bàn tay nữa thò ra cũng bám vào cái lỗ đó. Một bàn tay người lớn và một bàn tay của trẻ con. Sờ soạng và run rẩy. Nó không dám thở mạnh, không dám nhúc nhích. Thời gian dài tưởng như cả một thế kỷ trôi qua. Hai bàn tay ấy hình như đuối sức quá, buông ra, quờ quạng rồi tan biến vào bóng trăng mờ ảo.
Hôm sau hai vợ chồng trẻ ấy về làng xin phép hai nhà cho lên mạn ngược kiếm ăn. Cả hai nhà dồn lại cho chúng đựơc hai đồng Đông Dương ngày đó để chúng ăn đường. Rồi đến đâu làm thuê đó mà sống. Chúng biệt tăm từ đó và cánh đồng sình lầy kia cũng bị bỏ hoang từ đó.
Bà Tươi vừa kể dứt lời thì ông Niệm hỏi ngay :
- Nhưng sao chị biết chuyện đêm hôm đó chứ ?
- Làng người ta kháo nhau.Chú không biết quán nước là nơi nhiều chuyện sao.Nhưng riêng tôi, tôi lại nghĩ, có khi có ma thực. Ngày xưa ở đầu cầu bên kia có hai người chết thảm lắm.
- Hai người ?- Ông Niệm thốt lên .
- Chú có nhớ ngày xưa đầu cầu bên kia có một cái bót của Tây không. Tôi bán nước bên này, hồi đó lính Tây, lính ta gì đó cũng sang uống nước quán tôi. Một đêm, tôi thấy súng bên đó nổ rần rần .Cũng nghĩ là Việt Minh về đánh bốt thôi. Nhưng không phải. Mấy ngày hôm sau, người ta mới thấy mùi hôi thối bốc lên ở bên kia cầu. Lính trong bốt được lệnh đi tìm kiếm, thì bắt gặp xác của một người đàn bà và một đứa trẻ con chết trong ruộng lúa. Xác đã sình lên, thối rữa .Nghe tin tôi cũng chạy qua. Người ta chết rồi, đọc cho người ta mấy câu kinh, cũng là chuyện phúc đức, phải không chú .
- Rồi người ta chôn mấy cái xác đó ở đâu ,chị Tươi?
- Làm gi có đất mà chôn. Có mấy người bạo gan, hốt hai cái xác đó rồi thẩy xuống sông Trà cho nước cuốn đi. Có khi nào hai cái xác ấy tấp vào bãi lầy kia và neo lại đó. Đêm đêm hiện hồn đi lang thang …
- Chị có biết mặt chị Thục không ?
- Biết .Vợ anh Khoát chứ gì .Cùng trong ca đoàn làm gì không biết .
- Thế chị thấy cái xác ấy có giống chị Thục không?
- Có thấy gì đâu. Khi tôi sang thì người ta bó vào chiếu rồi …
- Lạy chúa tôi …
Ông Niệm thốt lên :
- Chị Tươi ơi. Ngày ấy, anh Khoát có cho chị Thục về quê mang theo tiền về để giúp bà con trong họ giáo Thái Bình. Chị đi mà không đến, cũng không về. Không ai biết chị đi đâu. Khi đi có thêm thằng Quang nữa. Không lẽ chị đã chết vào đêm ấy sao ?Chị Tươi …
Ông Niệm nói trong nước mắt, khiến bà Tươi cũng ngậm ngùi. Lâu lắm rồi bà không được khóc. Buồn thì có buồn cho cảnh đơn chiếc, nhưng Chuá đã an bài, khóc có ích chi. Nay gặp chuyện này, nghe sao xót xa…
*
* *
Giám mục San đưa ông Phan đến khu nhà dành cho những người sống quanh nhà thờ cũ từ thời còn Pháp đóng quân ở Thái Bình. Nhà thờ ấy vẫn còn. Lớp rêu đã phủ lên tường, tạo ra dáng vẻ của một nhà thờ cổ kính. Những căn nhà dành cho những giáo dân đầu tiên của xứ đạo Thái Bình cũng được xây từ dạo ấy. Những căn nhà thấp, tường dầy và cũng rêu phong. Những căn nhà xây liền vách với nhau. Dẫy lan can cũng xây bằng gạch, lâu ngày đã sứt sở nham nhở. Trong nhà lúc nào cũng như thiếu ánh sáng. Giám mục San đã giải thích cho ông Phan biết: những giáo dân ở trong khu nhà này là những người rất nghèo. Một số người sau năm đói Ất Dậu không còn đường nào khác đã bám vào nhà thờ này mà sống lay lắt. Cha quản hạt lúc đó cũng chắt chiu nấu cháo thí cho người đói. Xóm giáo dân nghèo hình thành từ ngày đó. Đất nhà thờ thành đất sống của họ.
Một ông già đã gần bẩy mươi tuổi nằm mệt mỏi trên chiếc giường nhỏ ở góc nhà . Khi nghe Giám Mục San giới thiệu, ông bỗng chồm dậy:
- Anh là Phan ?- Ông hỏi giật giọng .
- Vâng,con là Phan .
- Phan con ông Khoát ?
- Vâng?
- Chúa ơi, thế là con sống không uổng rồi. Chúa đã cho con biết tin về anh con rồi. Anh Khoát ơi .
Ông cứ thế hụ hụ khóc. Nước mắt ông trào ra đầm đìa trên gương mặt khiến Phan cũng hiểu ra, người ngồi trước mặt mình kia là ông chú, anh em chú bác ruột với bố mình đã mấy chục năm nay mới biết mặt. Ông cũng xà vào lòng ông già mà khóc tức tưởi .
- Bác Ngọc của anh chết trên Thái Nguyên rồi. Bác Hương anh cũng chết trên Hà Nội rồi. Bác Mậu cũng mới chết cách nay vài năm ở bên Sa Cát. Bác Thanh của anh còn sống, ở trên Thái Nguyên, nhưng yếu và lẫn không còn nhớ gì nữa. Chỉ còn tôi. Tôi hằng ngày, hằng đêm cầu Chúa phù hộ cho tôi sống thêm nữa để tôi tìm bố con anh.
- Chú ơi còn mẹ con, anh Quang con, chú có tin gì không? Họ ở đâu?
Ông già lắc đầu :
- Có tin, nhưng không biết có tin được hay không. Ngày mai tôi đưa anh lên cầu Trà gặp bà Tươi, thử hỏi lần nữa xem sao …
Hôm sau, có một người đàn ông đã già yếu và một người đàn ông còn khỏe mạnh đứng trước một ngôi mộ trong nghĩa trang sông Trà. Trên bia mộ ghi dòng chữ :"Bà Maria Trần Thị Tươi. Sinh ngày …Chết ngày…Thọ… tuổi …"
Ông Niệm lẩm bẩm :
- Bà ấy giận dòng họ đến tận lúc chết. Chết cũng không trối trăng nhắn tin về quê nữa. Bữa gặp bà ấy ở đây, tôi tính về báo tin cho gia đình bà ấy ở Thái Bình biết. Bà ấy cản, không cho. Bà ấy còn bảo, nếu cho gia đình biết bà ấy sẽ dọn đi nơi khác ở .Xin đừng làm khổ bà ấy …Thôi mình về Ủy ban xã xem có manh mối gì không?
Ông Chủ tịch Ủy ban xã là một người còn trẻ. Nghe ông Niệm trình bầy xong, ông nói ngay:
-Thưa ông và thưa anh. Chỗ đồng lầy ấy bây giờ đã được cải tạo thành ruộng rồi. Luá ở chỗ đó tốt lắm. Cấy tới ba vụ một năm kìa. Không lụt lội thì những người cầy cấy trên đó giầu to rồi .Vâng, hồi đó khi cải tạo đầm lầy, bà con cũng thấy hai cái sọ người, một lớn, một nhỏ. Bà con người ta thắp nhang khấn vái. Có người bảo nên mang về nghĩa trang chôn. Nhưng lại có người bảo, đó là người của Hà Bá thì trả lại cho Hà Bá, kẻo ngài giận , ngài làm lũ lụt thì khổ. Khấn vái xong, bà con họ lại bọc vải điều thả xuống sông rồi …Mấy năm được mùa liên tục, bà con càng tin rằng mình đã làm đúng. Thế đấy bác và anh ạ .
Trưa hôm đó ,Ông Niệm đưa ông Phan ra cầu sông Trà. Cây cầu bê tông kiên cố mới xây xong. Ông Niệm đứng vịn tay vào lan can, nhìn đau đáu xuống dòng nước đang cuồn cuộn chảy dưới kia. Còn Phan, trong tay ông là cả một bó hoa lớn. Những bông cúc và những bông hồng. Ông rút từng bông thả xuống dòng sông. Hai mắt ông nhắm nghiền. Miệng ông lẩm bẩm đọc kinh.
Suốt buổi chiều đó hai người không rời mặt cầu. Thực ra họ không dám khẳng định hai cái xác kia là người thân của mình. Nhưng trong chốn thầm kín tâm linh ,thì họ cảm thấy có cái gì gần gũi lắm. Riêng đối với Phan,sau khi đọc xong những câu kinh,làm dấu thánh giá đến ba lần, ông nhìn đăm đắm xuống dòng sông. Con nước vẫn cuồn cuộn chảy như bao đời nay từng thế. Ông đã qua không biết bao nhiêu dòng sông trong đời mình, nhưng có con sông nào như con sông này. Ông có cảm giác một phần máu thịt mình đang trôi theo con nước trên sông, mỗi ngày một xa nguồn cội. Ông ao ước có một sức mạnh thần kỳ giữ cho con nước đừng trôi, để phần đời ông dừng lại biết đâu chẳng gặp lại những người ruột thịt của mình. Phải mẹ đó không, phải anh đó không. Sông ơi .
NGUYỄN ĐỨC THIỆN








