“Ta xé thân ta thành từng mảnh, Ném vào đời cho trọn cuộc lang thang”

ĐỪNG CHẢY SÔNG ƠI- truyện ngắn của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( tiếp theo và hết)

Truyện ngắn Trackbacks (0) Bản in góp ý (45)   

         ĐỪNG CHẢY SÔNG ƠI 
            (Để tưởng nhớ những người thân 
            trong gia đình tôi nhân Giáng sinh 2009)
                        O

Truyện ngắn của

          NGUYỄN ĐỨC THIỆN

                   

         ( Tiếp theo và hết) 

         Từ lâu rồi, đầu cầu Trà có một quán bán nước chè tươi. Xứ vùng xuôi như thế này có người bán nước chè tươi là hiếm lắm. Bà bán nước chè là một người đôn hậu. Bà không mấy khi cười với khách hàng nhưng nét mặt bà lúc nào cũng có cái vẻ vui vui, dễ gần. Thường thì khoảng bốn giờ sáng bà thức dậy đặt lên bếp ấm nước. Có lẽ vào thời điểm đó mà nấu nước bằng ấm đất như bà là hiếm lắm. Chiếc ấm đất có lẽ có từ lâu lắm rồi. Khói rạ đã làm nó đen thui. Bà ngồi bên bếp lửa, tay cời, tay đẩy, giúp cho ngọn lửa cháy đều, không lớn, cũng không nhỏ. Miệng bà tóp tép miếng trầu. Nồi nước sôi, bà mới vò những lá chè xanh đã được rửa kỹ bỏ vào những bình tích. Nước đang sôi ùng ục, bà bắc ra tưới nhẹ vào lớp chè trong bình tích. Hương chè tỏa ra thơm ngào ngạt. Bà nhắc cái bình tích lên, chắt nước đầu ra một cái bát ô tô, sau đó mới đổ lượt nước sôi khác vào bình. Bà pha hai ấm như thế, mỗi ấm chứa khoảng năm lít nước. Bà đổ một nồi nước khác đặt vào bếp, nhưng không đặt lên kiềng,mà hạ xuống, lấy rạ ủ xung quanh và đốt lên. Nồi nước này để dự phòng, bán gần hết hai bình kia, bà mới nổi lửa cho chóng sôi, không để khách phải chờ lâu. Nước tráng chè, bà cũng không đổ đi mà rót vào một cái bình khác. Những người qua đường không thích nước chè, bà rót cho người ta mà không tính tiền.

          Cái chõng nhỏ bán nước chè của bà chỉ có hai cái giỏ ủ bình tích, mấy cái bình thủy tinh trong đó có kẹo vừng, kẹo lạc, kẹo gôm, lạc rang húng lìu. Tất cả những thức đó bà gởi người ta đi chợ mua giúp không tính tiền lời. Không thiếu một rổ khoai lang luộc theo kiểu nhà quê, có nghĩa là bỏ vào nồi đồng, đổ thực ít nước, nấu sôi lên rồi quần trong đống tro nóng. Chừng năm giờ sáng, mùa đông cũng như mùa hè, bà đã ra ngồi bên cái chõng bán nước. Khách của bà là những người ra làm đồng sớm. Họ ghé lại quán của bà uống vài bát nước chè xanh, ăn mấy củ khoai lang lót dạ trước khi xuống đồng. Nhiều người uống nước chè của bà thành nghiện. Sáng ra không có bát chè xanh của bà là suốt ngày cứ thấy thèm thèm một cái gì đó. Có người kể rằng có một ông kia đi coi cho vợ đẻ. Những lúc lo lắng thì không sao. Khi cô vợ sinh rồi cứ thấy ông ngồi đâu là ngáp đấy. Không chịu được , ông đạp xe ra quán chè của bà uống một hơi ba bát nước chè, thế là ông ta tỉnh táo hẳn lên. Chuyện nghe như hoang đường. Nhưng sáng ra người ta ghé quán nước của bà thành thói quen là có. Bà năm đó chừng hơn năm mươi tuổi. Bà bán chè xanh ở đầu cầu Trà từ lúc tóc còn xanh, môi còn đỏ và nụ cười còn duyên. Nên vào thời điểm đó không thiếu gì người đến uống nước chè hơi lâu và bóng bẩy đưa lời dạm ý. Nhưng bà không trả lời ai, không theo ai đi hội làng. Bà ở một mình cho đến tận sau này. Hơn năm mươi mà bà còn dáng vẻ của ngày xưa mặn mòi con gái xứ quê. Chỉ khác, bà bắt đầu nhai trầu. Đời cha đến uống nước quán bà, sau này đến đời con cũng đến uống nước chè xanh quán  của bà, như một lẽ tự nhiên. Chỉ khoảng sáu giờ là cùng, những người khách cuối cùng của buổi sáng đã hết.Trên cánh đồng trước mặt lố nhố người làm, thì quán bà trở nên vắng tanh. Phải chờ lúc nắng gần đứng bóng mới lại có người đến uống nước. Cũng là những người lúc sáng. Sớm mai khi họ đến thì tươi tắn, mạnh bạo và linh hoạt. Nhưng đến trưa, người nào, người nấy lấm lem bùn đất, mồ hôi ướt đẫm áo quần và gương mặt thì mệt mỏi. Lại bát nước chè xanh nóng hổi, thơm ngát và đậm đà giúp họ lấy lại sắc thái trên gương mặt. Buổi trưa thì nước chè xanh và kẹo vừng , kẹo lạc. Ăn rồi, họ gói mấy cái mang về làm quà cho lũ nhỏ.

          Sáng nay, khi người khách cuối cùng đã ra khỏi quán, bà lại vào bếp chuẩn bị cho bán giấc trưa. Nhưng vùa lúi húi lên lửa thì nghe như tiếng có người ghé quán. Bà bước vội ra. Đó là một người đàn ông dong dỏng cao, ánh mắt linh lợi, mái tóc hớt cao và trên miệng có một nụ cười dễ mến .

          - Thưa bác , bác dùng gì ạ?- Bà mềm mỏng hỏi .

          - Bà cho tôi bát nước .

          Bà mở cái ấm giỏ ra, rót một bát nước. Bát nước cuối ấm sóng sánh như bát mật ong. Bà đặt bát nước trước mặt ông khách. Ông khách không đón bát nước mà cứ nhìn bà chăm chăm. Bỗng ông la lên :

          - Chị Tươi. Chị là chị Tươi có phải không ?

          Bà thoáng giật mình. Lâu lắm rồi không ai gọi tên bà. Người ta gọi bà bằng cái tên bà chè xanh cầu Trà. Cái tên này thành danh cho một địa điểm không thể thiếu cho những ai đi ngang qua đây. Nay có người gọi đúng cái tên của bà. Nhưng là ai. Bà ngập ngừng hỏi :

          - Vậy chứ bác là ai mà biết tên tôi ?

          - Lạy Chúa tôi. Chị không nhận ra em sao. Thằng Niệm đây mà. Thằng em chồng hụt của chị đây mà.

          - Vậy bác là em ông Khoát ?

          - Vâng. Em con chú, con bác ruột .

          - Giêsu ma lạy chúa tôi .Mấy chục năm rồi làm sao tôi nhớ .

          Họ xoắn xuýt hỏi thăm nhau, chuyện nhà cửa, chuyện làm ăn, chuyện con cái. Nhắc đến chuyện con cái ,bà Tươi có vẻ buồn. Nhưng rồi bà bình tĩnh lại ngay. Bà nói:

          - Cái duyên của tôi với anh Khoát không thành cũng là do Chuá sắp xếp cả.Tôi đâu dám trách. Nhưng chú –bà đổi cách xưng hô- có biết ông Khoát bây giờ ra sao không. Tôi nghe ông ấy về Hà Nội từ hồi đánh Pháp phải không?

          - Dạ phải. Anh ấy dinh tê ,phải trốn lên Hà Nội ở. Lúc giải phóng Hà Nội, anh ấy đi Nam rồi. Chẳng có tin tức gi cả .

          Ông Niệm tần ngần ngồi nhìn bà Tươi. Ông đang hình dung ra cô Tươi ngày xưa trong ca đoàn nhà thờ. Giữa bao nhiêu giọng hát, người ta vẫn nhận ra giọng hái trong vắt của cô. Anh đốc tờ chưa tốt nghiệp mỗi lần về đi lễ say cô như say đọc kinh khi sám hối. Họ hẹn hò nhau. Anh về xin với bố mẹ cho được lấy cô làm vợ. Nhưng bố mẹ anh không cho và để tránh đi những hậu họa do trai gái mê say nhau. Bố mẹ ông hỏi ngay con gái ông chánh trương và đưa đến nhà thờ làm lễ cưới ngay. Hồi đó làm gì có chuyện cãi cha cãi mẹ trong đường tình duyên. Nhất là trong một xứ đạo còn rất mới. Đám cưới xong, anh đi học tiếp. Còn cô Tươi, biết cô có hẹn hò với anh đốc-tơ chưa thành tài, ông bố cô đã đánh cô một trận thừa sống thiếu chết, cũng biến mất khỏi xứ Thái Bình. Nghe tin cô sang Bùi Chu xin vào nhà tu, làm nữ tu sĩ .

          - Tôi không tu được. Hình ảnh anh Khoát không làm sao ra khỏi tâm trí của tôi. Tu mà như thế là có tội với Chúa. Tôi xin ra và đến cầu Trà này mở quán nước .

Bà Tươi nói vậy với ông Niệm, giọng buồn buồn, nhưng không có nước mắt. Bà hỏi:

- Nhưng hôm nay chú đến đây có việc gì vậy ?

- Chết, gặp chị mừng quá tý nữa em quên. Em hỏi chị, gần đây có cái bãi hoang chăn vịt nào không?

-Có. Chú tính về đây nuôi vịt sao. Bãi ấy bỏ hoang lâu rồi đấy. Chú đến xin với Hợp tác xã nhận mà làm.

- Không em không nuôi vịt. Nhưng em nghe người ta nói ở bãi chăn vịt ấy có ma phải không chị .

- Là người công giáo mà chú cũng tin là có ma sao. Nhưng cũng có chuyện đấy. Để tôi kể chú nghe .

Đó là bãi lầy nằm sát bờ sông. Cánh đồng lúa nằm phía bên trong. Muốn đến bãi lầy kia phải qua thêm một cánh đồng cói rộng mênh mông nữa. Từ xưa đến nay, cũng có một vài người đến chăn vịt trên bãi, nhưng không hiểu sao, vịt nuôi ở đó mà không lớn, không sai trứng như những nơi khác. Nên họ bỏ. Một hôm ,nhà trong xóm có một đám cưới. Một đám cưới nghèo chưa từng thấy ở đất này. Cả hai gia đình chỉ làm thịt có một con gà để kính các cụ trong làng. Còn bà con hàng xóm, chỉ được mời đến uống nước chè, ăn kẹo vừng mà thôi. Cưới xong hai trẻ cũng không ra ở riêng được. Mà ở chung với nhà chồng thì không tiện. Nhà bé bằng cái chuồng gà. Năm bẩy đứa em sàn sàn ngủ lăn lóc trên nền nhà. Có một cái chõng tre duy nhất dành cho bố mẹ chồng. Hai đứa không còn cách nào khác đành xin làng ra ở ngoài dệ  sông, nơi có cái đầm lầy kia. Ông bố vợ gom nhặt cũng cho hai đứa được vài chục con vịt con. Người trong làng cho ít cây tre. Hai đứa cố cắt rạ trong vài ngày, và cuối cùng cũng làm được một cái chòi ngoài đầm lầy. Khổ một nỗi, từ bữa cưới đến bữa xong lều, hai đứa trẻ không được gần nhau. Đêm đầu tiên, không biết chúng loay hoay thế nào mà căn lều xụp đổ. Người làng kháo nhau ngay: tại chúng không cúng thổ công, nên thổ công không độ, cho ma quái giật đổ nhà tụi chúng. Nhưng đổ thì đổ, chúng không còn cách nào khác, nên lại dựng lều lên ở nữa. Cái lều đúng ra có thể che đủ cho hai đứa ngủ. Nhưng nghe đồn, hai đứa hoảng không dám ngủ chung nữa. Muốn tạ thổ công cũng phải có tiền chứ. Trong túi chúng rỗng không. Ban ngày đi mót được vài hạt lúa, giã chậm chuội ra. Lội bùn ngoài sông kiếm con cua con ốc sống qua ngày, lấy gì mà tạ. Thôi đành chịu cảnh cách một bức vách. Con vợ nằm trong lều, còn thằng chồng thì quấn ổ ra nằm ngoài. Cấm chuyện yêu đương chờ khi nào tạ thổ công rồi mới được gần nhau. Những bữa mưa, rét thì rút rạ làm thêm tấm tranh che tạm.

Một đêm kia, trời sáng trăng suông. Ánh trăng bàng bạc phủ lên đầm lầy một mầu bàng bạc. Mặt sông cũng lặng như tờ. Sương đêm buông xuống lạnh lẽo. Trong lều, con vợ chắc đã ngủ say. Bầy vịt ngoài chuồng không xao xác nữa. Thằng chồng không ngủ được vì lạnh. Tấm áo vá chằng vá đụp không đủ làm cho nó ấm và cũng không che được hết cơ thể nên những cọng rạ cứ chọc vào rát rạt. Nó rúc sâu vào đống rạ, nhưng chỉ một lúc sau, ngợp thở nó lại phải thò cổ ra. Lúc đó chắc cũng đã khuya. Thêm một lần nữa thằng chồng vạch ổ rạ thò cổ ra ngoài. Đột nhiên, nó thấy ở ngay cạnh vách lều có một khoảng đen khác thường. Khoảng đen đó cứ di chuyển qua lại, giống như cái bóng người. Ban đầu, nó tưởng kẻ trộm. Nhưng lều của nó có gì mà trộm. Vả lại không hề nghe tiếng bước chân, không hề thấy hình hài con người, mà chỉ là cái bóng. Nó há hốc mồm sợ hãi. Càng sợ hãi hơn khi bỗng thấy có một bàn tay trắng bạch, nổi hằn trên cái bóng đêm, bám vào cái lỗ chừa làm cửa sổ. Nó toan la lên, nhưng chợt nghĩ đến vợ, nó lại thôi. Nhưng cổ nó nghẹn cứng lại khi thấy thêm một bàn tay nữa thò ra cũng bám vào cái lỗ đó. Một bàn tay người lớn và một bàn tay của trẻ con. Sờ soạng và run rẩy. Nó không dám thở mạnh, không dám nhúc nhích. Thời gian dài tưởng như cả một thế kỷ trôi qua. Hai bàn tay ấy hình như đuối sức quá, buông ra, quờ quạng rồi tan biến vào bóng trăng mờ ảo.

Hôm sau hai vợ chồng trẻ ấy về làng xin phép hai nhà cho lên mạn ngược kiếm ăn. Cả hai nhà dồn lại cho chúng đựơc hai đồng Đông Dương ngày đó để chúng ăn đường. Rồi đến đâu làm thuê đó mà sống. Chúng biệt tăm từ đó và cánh đồng sình lầy kia cũng bị bỏ hoang từ đó.

Bà Tươi vừa kể dứt lời thì ông Niệm hỏi ngay :

- Nhưng sao chị biết chuyện đêm hôm đó chứ ?

- Làng người ta kháo nhau.Chú không biết quán nước là nơi nhiều chuyện sao.Nhưng riêng tôi, tôi lại nghĩ, có khi có ma thực. Ngày xưa ở đầu cầu bên kia có hai người chết thảm lắm.

- Hai người ?- Ông Niệm thốt lên .

- Chú có nhớ ngày xưa đầu cầu bên kia có một cái bót của Tây không. Tôi bán nước bên này, hồi đó lính Tây, lính ta gì đó cũng sang uống nước quán tôi. Một đêm, tôi thấy súng bên đó nổ rần rần .Cũng nghĩ là Việt Minh về đánh bốt thôi. Nhưng không phải. Mấy ngày hôm sau, người ta mới thấy mùi hôi thối bốc lên ở bên kia cầu. Lính trong bốt được lệnh đi tìm kiếm, thì bắt gặp xác của một người đàn bà và một đứa trẻ con chết trong ruộng lúa. Xác đã sình lên, thối rữa .Nghe tin tôi cũng chạy qua. Người ta chết rồi, đọc cho người ta mấy câu kinh, cũng là chuyện phúc đức, phải không chú .

- Rồi người ta chôn mấy cái xác đó ở đâu ,chị Tươi?

- Làm gi có đất mà chôn. Có mấy người bạo gan, hốt hai cái xác đó rồi thẩy xuống sông Trà cho nước cuốn đi. Có khi nào hai cái xác ấy tấp vào bãi lầy kia và neo lại đó. Đêm đêm hiện  hồn đi lang thang …

- Chị có biết mặt chị Thục không ?

- Biết .Vợ anh Khoát chứ gì .Cùng trong ca đoàn làm gì không biết .

- Thế chị thấy cái xác ấy có giống chị Thục không?

- Có thấy gì đâu. Khi tôi sang thì người ta bó vào chiếu rồi …

- Lạy chúa tôi …

Ông Niệm thốt lên :

- Chị Tươi ơi. Ngày ấy, anh Khoát có cho chị Thục về quê mang theo tiền về để giúp bà con trong họ giáo Thái Bình. Chị đi mà không đến, cũng không về. Không ai biết chị đi đâu. Khi đi có thêm thằng Quang nữa. Không lẽ chị đã chết vào đêm ấy sao ?Chị Tươi …

Ông Niệm nói trong nước mắt, khiến bà Tươi cũng ngậm ngùi. Lâu lắm rồi bà không được khóc. Buồn thì có buồn cho cảnh đơn chiếc, nhưng Chuá đã an bài, khóc có ích chi. Nay gặp chuyện này, nghe sao xót xa…

*

*    *

          Giám mục San đưa ông Phan đến khu nhà dành cho những người sống quanh nhà thờ cũ từ thời còn Pháp đóng quân ở Thái Bình. Nhà thờ ấy vẫn còn. Lớp rêu đã phủ lên tường, tạo ra dáng vẻ của một nhà thờ cổ kính. Những căn nhà dành cho những giáo dân đầu tiên của xứ đạo Thái Bình cũng được xây từ dạo ấy. Những căn nhà thấp, tường dầy và cũng rêu phong. Những căn nhà xây liền vách với nhau. Dẫy lan can cũng xây bằng gạch, lâu ngày đã sứt sở  nham nhở. Trong nhà lúc nào cũng như thiếu ánh sáng. Giám mục San đã giải thích cho ông Phan biết: những giáo dân ở trong khu nhà này là những người rất nghèo. Một số người sau năm đói Ất Dậu không còn đường nào khác đã bám vào nhà thờ này mà sống lay lắt. Cha quản hạt lúc đó cũng chắt chiu nấu cháo thí cho người đói. Xóm giáo dân nghèo hình thành từ ngày đó. Đất nhà thờ thành đất sống của họ.

          Một ông già đã gần bẩy mươi tuổi nằm mệt mỏi trên chiếc giường nhỏ ở góc nhà . Khi nghe Giám Mục San giới thiệu, ông bỗng chồm dậy:

          - Anh là Phan ?- Ông hỏi giật giọng .

          - Vâng,con là Phan .

          - Phan con ông Khoát ?

          - Vâng?

          - Chúa ơi, thế là con sống không uổng rồi. Chúa đã cho con biết tin về anh con rồi. Anh Khoát ơi .

          Ông cứ thế hụ hụ khóc. Nước mắt ông trào ra đầm đìa trên gương mặt khiến Phan cũng hiểu ra, người ngồi trước mặt mình kia là ông chú, anh em chú bác ruột với bố mình đã mấy chục năm nay mới biết mặt. Ông cũng xà vào lòng ông già mà khóc tức tưởi .

          - Bác Ngọc của anh chết trên Thái Nguyên rồi. Bác Hương anh cũng chết trên Hà Nội rồi. Bác Mậu cũng mới chết cách nay vài năm ở bên Sa Cát. Bác Thanh của anh còn sống, ở trên Thái Nguyên, nhưng yếu và lẫn không còn nhớ gì nữa. Chỉ còn tôi. Tôi hằng ngày, hằng đêm cầu Chúa phù hộ cho tôi sống thêm nữa để tôi tìm bố con anh.

          - Chú ơi còn mẹ con, anh Quang con, chú có tin gì không? Họ ở đâu?

          Ông già lắc đầu :

          - Có tin, nhưng không biết có tin được hay không. Ngày mai tôi đưa anh lên cầu Trà gặp bà Tươi, thử hỏi lần nữa xem sao …

          Hôm sau, có một người đàn ông đã già yếu và một người đàn ông còn khỏe mạnh đứng trước một ngôi mộ trong nghĩa trang sông Trà. Trên bia mộ ghi dòng chữ :"Bà Maria Trần Thị Tươi. Sinh ngày …Chết ngày…Thọ… tuổi …"

          Ông Niệm lẩm bẩm :

          - Bà ấy giận dòng họ đến tận lúc chết. Chết cũng không trối trăng nhắn tin về quê nữa. Bữa gặp bà ấy ở đây, tôi tính về báo tin cho gia đình bà ấy ở Thái Bình biết. Bà ấy cản, không cho. Bà ấy còn bảo, nếu cho gia đình biết bà ấy sẽ dọn đi nơi khác ở .Xin đừng làm khổ bà ấy …Thôi mình về Ủy ban xã xem có manh mối gì không?

          Ông Chủ tịch Ủy ban xã là một người còn trẻ. Nghe ông Niệm trình bầy xong, ông nói ngay:

          -Thưa ông và thưa anh. Chỗ đồng lầy ấy bây giờ đã được cải tạo thành ruộng rồi. Luá ở chỗ đó tốt lắm. Cấy tới ba vụ một năm kìa. Không lụt lội thì những người cầy cấy trên đó giầu to rồi .Vâng, hồi đó khi cải tạo đầm lầy, bà con cũng thấy hai cái sọ người, một lớn, một nhỏ. Bà con người ta thắp nhang khấn vái. Có người bảo nên mang về nghĩa trang chôn. Nhưng lại có người bảo, đó là người của Hà Bá thì trả lại cho Hà Bá, kẻo ngài giận , ngài làm lũ lụt thì khổ. Khấn vái xong, bà con họ lại bọc vải điều thả xuống sông rồi …Mấy năm được mùa liên tục, bà con càng tin rằng mình đã làm đúng. Thế đấy bác và anh ạ .

            Trưa hôm đó ,Ông Niệm đưa ông Phan ra cầu sông Trà. Cây cầu bê tông kiên cố mới xây xong. Ông Niệm đứng vịn tay vào lan can, nhìn đau đáu xuống dòng nước đang cuồn cuộn chảy dưới kia. Còn Phan, trong tay ông là cả một bó hoa lớn. Những bông cúc và những bông hồng. Ông rút từng bông thả xuống dòng sông. Hai mắt ông nhắm nghiền. Miệng ông lẩm bẩm đọc kinh.

          Suốt buổi chiều đó hai người không rời mặt cầu. Thực ra họ không dám khẳng định hai cái xác kia là người thân của mình. Nhưng trong chốn thầm kín tâm linh ,thì họ cảm thấy có cái gì gần gũi lắm. Riêng đối với Phan,sau khi đọc xong những câu kinh,làm dấu thánh giá đến ba lần, ông nhìn đăm đắm xuống dòng sông. Con nước vẫn cuồn cuộn chảy như bao đời nay từng thế. Ông đã qua không biết bao nhiêu dòng sông trong đời mình, nhưng có con sông nào như con sông này. Ông có cảm giác một phần máu thịt mình đang trôi theo con nước trên sông, mỗi ngày một xa nguồn cội. Ông ao ước có một sức mạnh thần kỳ giữ cho con nước đừng trôi, để phần đời ông dừng lại biết đâu chẳng gặp lại những người  ruột thịt của mình. Phải mẹ đó không, phải anh đó không. Sông ơi .

  

                                                                  

         NGUYỄN ĐỨC THIỆN



         

ĐỪNG CHẢY SÔNG ƠI- truyện ngắn của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( phần 1)

Truyện ngắn Trackbacks (0) Bản in góp ý (8)   
          ĐỪNG CHẢY SÔNG ƠI 
               (  Để tưởng nhớ những người thân 
               trong gia đình tôi nhân Giáng sinh 2009)                       
 

Truyện ngắn của

          NGUYỄN ĐỨC THIỆN   

                        

   
         Buổi lễ sáng chủ nhật đã tan. Người cuối cùng đã quỳ xuống hướng về bàn thờ Chúa, quỳ xuống, làm dấu thánh, bước vài bước thụt lùi rồi quay lưng chậm rãi ra khỏi nhà thờ. Giám mục Phao-lô San bước về phía sau bàn thờ, cởi chiếc áo choàng, đưa cho cha giúp lễ toan rời nhà thờ về nhà nghỉ. Nhưng ngài bỗng dừng bước khi thấy trong nhà thờ vẫn còn một người đang quỳ gối, gục đầu trên một cái ghế hàng đầu. Ngài bước lại:

          - Tan lễ rồi, sao con không về ?

          Người ấy ngước lên :

          - Trình lạy Cha. Cha cho con nguyện thêm một tràng hạt nữa, rồi con về ?

          Đã lâu rồi Giám mục chưa gặp một người siêng năng cầu nguyện như vậy. Ngài gật gật đầu rồi lặng lặng quay lưng .

          Người đàn ông một mình trong nhà thờ. Không biết ông ta đọc bao nhiêu kinh, cầu nguyện gì, nhưng có vẻ thành khẩn lắm. Lát sau, ông ta mới đứng dậy, làm dấu thánh thêm ba lần nữa mới quay lui.

          Nhưng hình như ông ta không muốn về. Ra trước sân nhà thờ, ông ta dừng lại, ngước mắt nhìn lên tượng ông thánh Giuse và Đức Bà Maria đang nâng Chúa Hài đồng trên tay. Ánh mắt ông ta không bầy rõ tình cảm của mình, nó có vẻ lạnh lùng, vô cảm, nhưng nhìn thực lâu, không chớp. Giám mục San đến sau lưng ông ta từ lúc nào mà ông ta không biết. Giám mục đặt nhẹ bàn tay lên vai ông ta. Ông ta khẽ giật mình quay lại:

          - Trình cha …

          - Hình như con không phải là người xứ này phải không ?

          - Dạ phải, thưa cha. Con mới từ bên Mỹ về ?

          - Bên Mỹ về ? Nhà thờ này có duyên gì với con ?

          - Con không biết nữa,thưa cha.

          Giám mục San mời ông ta vào nhà nghỉ của mình. Vẻ trầm mặc u uất của người khách lạ khiến ngài lo lắng . Thì cũng là sự lo lắng của kẻ tu hành, thấy ai có vẻ buồn là muốn chia sẻ. Có lẽ đó là thiên chức của những người nguyện giữ mình chay tịnh suốt đời vì nghiệp Chúa.

          Nhưng ông khách đi chưa hết hành lang nhà thờ, bỗng nói với Giám mục San:

          - Thưa Cha, Cha có thể cho con một đặc ân không ?

          - Con muốn gì ?

          - Xin cha cho con được xưng tội.

          - Không sao, không sao. Chúa bao giờ cũng tha thứ. Con vào đây với cha.

          Tòa xưng tội là một căn phòng nhỏ. Hai người cách nhau một bức mành mỏng đủ không ai nhìn thấy ai, nhưng có thể nghe tiếng nói của nhau rất rõ.

          - Nào con bắt đầu đi .

          - Trình cha, con là kẻ có tội. Con không chỉ có tội với Chúa, mà còn có tội với cha mẹ con, có tội với mảnh đất này .

          - Chúa sẽ tha tội cho con. Nhưng con có thể nói rõ hơn được không? Trước Chuá con có thể nói tất cả .

          - Con hiểu, thưa cha. Nhưng con biết bắt đầu từ đâu bây giờ. Mà Cha thì không có nhiều thời gian. Chuyện của gần ba mươi năm, chỉ vài phút nói làm sao hết. Cha con còn sống mà con từ cha con. Mẹ con chết dập, chết vùi ở đâu con không tìm thấy mồ mả, không tìm thấy nắm xương tàn. Tội của con lớn quá, không biết rồi Chúa có thương mà tha tội cho con không?

          - Con cứ ăn năn, Chúa sẽ giải tội cho con …

          Người đàn ông cúi đầu nhận miếng bánh thánh từ tay Giám mục sau khi đã đọc xong một kinh Lạy cha, mười kinh Kính mừng, kinh cầu thánh Vicente ,thánh bảo hộ ông ta …theo lời dặn của Giám mục San. Gọi là để tạ tội trước Chúa. Đã giấc trưa. Giám mục mời ông ta ở lại dùng bữa. Ngài gọi người giúp việc đến, nói mấy câu, rồi kéo khách ra ngồi dưới tán của một dàn nho không có trái. Ở đấy có một cái bàn đá và  có sẵn một ấm trà. Hai người ngồi bên nhau mới thấy họ giống nhau lạ lùng. Giám mục có vẻ già nua, nhưng còn khá nhanh nhẹn. Sự ăn uống có lẽ khá đầy đủ nên ngài giữ được một thân hình đầy đặn, cao lớn. Khuôn mặt ngài hồng hào, tròn trịa, giống như ông khách. Ông khách cũng thế. Chỉ khác có cặp kính trắng không rời mắt. Còn thân hình cũng to cao không kém gì Giám mục. Giám mục tự tay rót trà ra tách mời khách. Những khách sáo ban đầu dần được xua tan, và câu chuyện của họ mỗi lúc một rôm rả hơn .

          -Trình cha , con tên là Phan, người quê gốc là ở Thái Bình này. Chắc cha là người mới đến xứ Thái Bình sau này , chứ ở đây ai cũng biết bố con . Ông đốc- tờ Khoát , không mấy người không biết.

          Cạnh nhà thờ Thái Bình có mấy dãy nhà dành cho những người nghèo, không đất ở. Họ toàn là những người tụ về đây sau những ngày làm thuê vất vả để dựng lên nhà thờ này. Sau khi xây xong nhà thờ, những người thợ hết cách sống. Về quê thì không tấc đất cắm dùi. Ở lại thì chỉ có đi làm thuê, làm mướn mà sống. Đức Cha lúc đó mới cho cất những dãy nhà quanh nhà thờ, rồi chia cho những người không gia cư ấy xúm vào mà ở. Nhà chẳng rộng chẳng cao. Trước sau trong ngoài chỉ khoảng hai chục mấy mét vuông. Nhà nào cẩn trọng thì lấy cót thưng lại, chắn thành cái buồng đề cho kín đáo chuyện vợ chồng. Có nhà chỉ kéo một chiếc màn che. Hồi ấy, đạo mới sáng, nên giáo dân còn ít. Đức Cha lúc đó muốn bầy con chiên hiếm hoi của chúa quẩn quanh với nhà thờ. Chớ còn sau này, chẳng thể lo cho hết. Những người nghèo vô gia cư thế mà ở lại. Một căn nhà không, nhưng đủ để những gia đình vợ chồng con cái chen chúc, nhưng có cái che nắng che mưa. Cảm ơn Chúa lòng lành. Ngày ngày lo lam, lo làm. Một bát để ăn, bát kia dành dụm.

Bấy giờ đã là đời thứ hai. Đời thứ nhất đã thành những ông cụ râu dài và những bà cụ còng lưng. Những người ấy chỉ còn ngày ngày vui với con, vui với cháu và sớm tối cầu nguyện.  Những đứa con nít ngày mới dựng nhà thờ xứ mới sinh ra, nay đã lớn. Đời thứ hai này xem ra khá hơn đời các cụ. Cũng nhờ vào bát ăn, bát dành của lớp trước mà có người may mắn khá lên. Họ cứ ngẫm rằng, nhờ Chúa ban ơn mà được vậy, chớ họ không nghĩ rằng phải đổ mồ hôi, phải sôi nước mắt mới được thế. Nhưng khá thì khá, những người ấy vẫn không rời nhà thờ, dọn đi ở chỗ khác. Hình như tiếng nguyện cầu sáng tối rậm ran khiến họ mắc nghiện không thể đi được nữa. Ngày ấy đất đai quanh nhà thờ còn rộng. Đức cha không còn bỏ tiền ra xây nhà cho giáo dân quanh đó nữa. Nhưng cần đất để cất thêm môt căn nhà nhỏ thì đức cha cũng sẵn lòng. Vì thế , ban đầu chỉ là mấy dẫy nhà dành cho những kẻ xa cơ, đã thành một xóm đạo trong khôn viện rộng thênh thang của nhà thờ. Những dãy nhà xây liền nhau càng ngày càng cũ hơn. Những ngôi nhà riêng rẽ mọc dần lên , cũng xếp ngay hàng thẳng lối, như rộng rãi hơn .

          Nhà ông Trùm Công cũng ở trong khu xóm đạo đó. Ban đầu ông ở chung trong dẫy nhà sát nhau kia. Nhưng khi ăn nên làm ra, ông nhường căn đó cho người em họ và xin với đức cha cho một miếng đất khác cất nhà. Nói là ăn nên làm ra, chứ thực ra, cũng chỉ đủ sức cất nhà riêng, chứ trong nhà vẫn cứ tương cà và mắm muối thôi. Ông Trùm có đến ba anh con trai và một cô con gái. Anh trai cả lấy vợ sớm. Lúc mới có mười tám tuổi. Lấy vợ xong là ông trùm cho ra ở riêng liền. Lấy vợ năm năm thì ba đứa con ra đời . Anh trai cả đầu tắt mặt tối làm thuê làm mướn nuôi vợ nuôi con. Được cái anh cả cũng vào loại giỏi giang. Việc gì cũng làm được. Đóng cối. Đan thúng, đan nong nia, rổ rá. Ấy là việc làm ngay trong nhà. Còn bên ngoài ai gọi làm nấy. Kể cả việc đi cầy ngoài đồng cũng xong.

          Anh con trai thứ hai xem ra đoảng hơn. Vóc dáng lúc nào cũng ẻo lả. Thay vì phải lo kiếm việc làm sơm sớm. Anh ta lại xin được vào hầu đức cha. Ngày hai bữa cơm là ở nhà. Còn thời gian cứ luẩn quẩn bên Đức cha. Hầu cơm, hầu nước. Đốt nến trên các bàn thờ. Những ngày lễ thường, cậu còn được Đức cha cho giúp lễ. Chuyện ấy chẳng khó gì. Đi sau nâng vạt chiếc áo lễ của Đức cha. Khi Đức cha nghiêm trang làm lễ ở bàn thờ thì đứng xách bình trầm thơm, đung đưa cho hương thơm ngào ngạt bay ra , tỏa mùi khắp nhà thờ. Còn khi người xưng tội được Đức cha ban bánh thánh thì nâng cái khay, trong đó có những chiếc bánh thánh mỏng tang, bước giật lùi theo bước tiến của Đức cha, để Đức cha nhón từng chiếc bánh mà đưa vào miệng kẻ mới vừa ăn năn hối lỗi xong .

          Ông Trùm ban đầu thì bực mình vì thấy cậu con chẳng chí thú gì với công việc. Nhưng sau này, mỗi lần gặp Đức cha , thấy Đức cha khen ngợi cậu là siêng năng và sạch sẽ, ông lại mừng. Biết đâu nay mai, cậu sẽ vào trường dòng. Tu nhân tích đức, trong nhà ông biết đâu lại chẳng có một linh mục thì sao?

          Nhưng đời không như ông nghĩ. Đức cha thương cậu con thứ hai của ông thực nên đã lo lắng chuyện học hành cho cậu ta. Ban đầu thì học trong nhà thờ. Sau đó Đức cha đích thân đưa cậu ra xin học ở trường tỉnh. Ai ngờ được con một ông trùm học kinh cũng học truyền miệng lại có cậu con trai học giỏi đến như thế. Rồi cũng chính Đức cha gửi cậu lên học ở Hà Nội. Cậu bé phụ giúp lễ Đức cha ngày từ Hà Nội về người ta gọi là Đốc-tơ Khoát. Lại cũng đức cha mở ra một phòng mạch ngay cạnh nhà thờ, và giao cho Đốc-tơ Khoát, để cậu chuyên khám chữa bệnh cho bà con giáo dân quanh đó .

          Cậu con trai thứ ba khi Đốc tơ Khoát về hành nghề cũng tính đường như anh mình. Xong cậu ta đoảng vị nhất nhà. Làm cái gì hư hỏng cái đó.  Cả nhà gọi cậu ta là đứa hậu đậu. Nên cuối cùng cũng đành theo anh cả đi đóng cối. Con gái thì khỏi bàn đến. Vì đến thời điểm đó, cô ta còn nhỏ, lại là út, nên chỉ quanh quẩn ở nhà lo cơm nước cho cả nhà. Nhất là khi bà trùm Công yếu dần, không còn sức để lo chuyện nhà nữa .

         

Chuyện đẩy lùi thời gian về quá khứ mấy mươi năm, lúc cậu bé Phan còn ở Hà Nội với bố mẹ. Một gia đình đầy đủ và ấm cúng , nhưng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Đốc tờ Khoát đã có lúc là người của kháng chiến, nhưng chịu không nổi những ngày trong chiến khu, ông ta đã bỏ về quê. Lúc ấy đã theo kháng chiến mà dinh tê, coi như đã định đoạt số phận của mình. Chỉ hai chữ phản bội thôi là hoặc một nhát dao cứa ngang cổ, hoặc một phát súng nổ ngay cạnh màng tang. Ông anh trên Hà Nội biết tin, chạy ngay về Thái Bình, âm thầm kéo em lên Hà Nội, cho một gian nhà ở đầu phố Phó Đức Chính, nơi có thể nhìn được ra Hồ Tây, mở phòng mạch riêng, mà sống.Năm 1954, khi đoàn quân chiến thắng trở về Hà Nội, thì Đốc tơ Khoát cõng đứa con trai duy nhất theo đường biển ra Hải Phòng , trốn vào Nam.

          - Đứa con trai duy nhất ấy là con thưa cha.Vào trong đó con được đi học,và sau đó bố con cho con sang Mỹ tu nghiệp. Một ngày kia khi con trở về Việt Nam thăm nhà thì thấy trong nhà con có một người đàn bà khác.Con chưa bao giờ nghe bố con nói về bà ta.Một người đàn bà còn trẻ và có vẻ quý phái .Con có ác cảm ngay với bà ta.Con cứ nghĩ rằng bà ta không yêu gì bố con ,mà chỉ yêu uy tín của bố con mà thôi.Bố con là một bác sĩ nhiều người biết đến ở bệnh viện Vì Dân. Mà cha biết đấy, bố con đã có vợ nên mới có con. Chắc chắn bố con không thể làm phép cưới ở nhà thờ được phải không thưa cha. Con không ở lại hết kỳ nghỉ ấy và bay đi Mỹ học tiếp. Ngày trở về, con làm giáo sư ở trường Đại học y Sài Gòn. Con quyết không trở về nhà với bố con nữa. Con không thể sống chung nhà với người đàn bà xa lạ kia được. Nhưng thưa cha, cha có biết điều con khổ nhất là gì không? Con không biết mẹ con là ai cả. Con không biết thưa cha…Hỏi thì bố con chỉ bảo. Có lẽ mẹ con chết rồi. Có lẽ là sao, thưa cha.

          Không thể ngờ được nước mắt lại có thể ứa ra trên gương mặt người ông đã luống tuổi kia. Giám mục San với tay qua bàn vỗ nhẹ nhẹ lên vai người đối diện:

          - Chúa đã an bài mà con. Nhưng tại sao con về đây? Không lẽ có manh mối gì về mẹ con sao ?

          - Dạ có. Năm 1975 , Sài Gòn náo loạn lên vì quân giải phóng tiến về rất gần. Bố con cho gọi con về. Trong hoàn cảnh bom đạn loạn ly ấy,hình như người ta gần nhau hơn phải không phải không cha? Con về. Căn nhà bố con ở bộn bề như có ai vừa xới tung lên. Bà mẹ ghẻ con bơ phờ, rũ rượi, chạy ra, chạy vào. Những chiếc va ly lớn chất một đống giữa nhà. Những chiếc tủ mở toang hoác. Bố con kéo con ngồi xuống chiếc ghế nệm giữa phòng khách nói trong hơi thở như mệt mỏi lắm. Con quên chưa kể, trước đó ít lâu, bố con đã bị một tai nạn xe hơi. Lúc này mới tập tễnh đi lại được, nhưng còn yếu lắm. Bố con nói với con như sợ không còn thời gian nữa:

          - Tôi biết anh sẽ không đi cùng tôi trong chuyến di tản cuối đời này. Tôi không thể ở lại.Tôi đã một lần chạy trốn Việt Minh, nay lại phải chạy trốn Việt Cộng. Không biết tôi sái ở chỗ nào mà Chúa bắt tôi chịu khổ chịu nạn vậy nè.

          Chưa bao giờ con thấy bố con lại thất vọng đến như vậy. Ông là một bác sĩ có tài. Lúc đó Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện vào loại lớn nhất Sài Gòn. Ông không chỉ giữ cương vị phụ trách bệnh viện mà còn là người trực tiếp chữa trị cho bệnh nhân khi cần thiết. Ông đã từng nói với con,nhà mình vốn nghèo. Ngày xưa cha xứ Thái Bình nuôi ông thành đạt những mong sau này cha bệnh cho người nghèo trong xứ đạo. Ông đã làm được như thế. Cũng chính vì thế mà khi cách mạng tháng Tám, Việt Minh mới lôi kéo ông vào chiến khu khi Pháp quay lại Việt Nam. Ông đi rồi ông trở về. Không ngờ cuộc trở về ấy khiến cả đời ông nơm nớp lo sợ những cuộc trả thù. Ông đã chạy vào đến Sài Gòn, người ta đuổi đến Sài Gòn, và, ông lại phải chạy trốn nữa. Chưa bao giờ con thấy bố con bạc nhược như ngày hôm đó:

          - Tôi không biết rồi có ngày gặp lại anh không. Vì thế hôm nay tôi kêu anh về để nói với anh một chuyện mà đến nay tôi vẫn dấu anh. Nếu hôm nay không nói với anh, mai này tôi chết cũng không nhắm mắt được. Cho đến hôm nay, hơn hai mươi năm rồi tôi vẫn mong chờ tin mẹ anh. Sau khi tôi về Hà Nội, tôi vẫn nhớ đến cảnh nghèo của quê nhà. Bác gái anh đã chết năm đói Ất Dậu. Ông chú anh chết khi Tây càn về cầu Bo, Thái Bình. Tôi làm sao quên. Tôi thì không thể về quê được. Tôi sợ Việt Minh họ sử tội như bao người dinh tê khác. Tôi gom được ít tiền nên mới cho mẹ anh mang về Thái Bình mong trợ cấp cho bà con trong họ. Anh trai anh cùng đi với mẹ anh về quê. Nhưng mẹ anh đi rồi không thấy về. Tôi nhắn tin về quê tìm thì người ta bảo, mẹ anh không về đến quê. Tôi cứ nghĩ mẹ anh thất lạc đâu đó rồi có lúc sẽ trở lại. Nhưng rồi một năm, hai năm. Đến ngày rời vào đây là năm năm, mẹ anh cũng biệt tích. Tôi còn nhớ mẹ anh đi, anh mới năm, sáu tuổi. Còn thằng Quang anh trai anh đã chín tuổi rồi. Mấy chục năm không có tin mẹ anh, cũng không thấy xác mẹ anh và anh trai của anh, tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Bây giờ, thế sự bầy đặt ra như thế này, quả là không còn hy vọng gì nữa rồi. Có lẽ rồi tôi cũng bỏ xác ở xứ người, nay tôi nói chuyện này với anh, may ra \, có dịp anh còn về được quê…Dòng họ bên mẹ anh còn có bà Quy bây giờ đang tu ngoài Huế. Ngoài Thái Bình, anh còn ông chú, nhưng không phải ruột thịt, nhưng rất gần, là anh em con chú con bác với tôi, nhà ngay cạnh Toà giám mục Thái Bình. Tên ông ấy là Niệm. Mấy chục năm rồi, không biết có còn nguyên vẹn như tôi nói với anh không. Nhưng anh hãy coi đây là lời trăng trối của tôi. Anh cứ nhớ, nếu làm được thì hãy làm những việc mà tôi không thể làm. Tôi chắc đi lần này là không thể quay đầu trở lại. Anh hiểu cho tôi …

          - Trình cha, không ngờ đó là lần cuối cùng con gặp cha con. Hôm sau quay lại đã thấy căn nhà ông ở đường Ông Tạ đã khóa cửa. Người xung quanh nói có một xe bọc thép đã đến đón ông bà đi từ hồi đêm. Hôm sau nữa tin đồn khắp Sài Gòn, ông Thiệu đã trốn đi nước ngoài bằng tầu thủy. Người ta rần rần trốn theo ông ta. Không biết bố con chạy đi hồi nào. Lần đầu tiên con khóc bố trước cửa căn nhà đã khóa. Nhưng thời gian không cho phép con đau thương bị lụy. Mấy ngày sau, con cũng đưa cả nhà trốn khỏi Sài Gòn giữa khung cảnh Sài Gòn hỗn loạn chưa từng thấy. Những ngày sau đó quả thực con không còn nghĩ nhiều đến chuyện bố con đã nói với con trong cái ngày chia ly ấy. Nhưng bây giờ ,khi tuổi bắt đầu xế chiều sao con nhớ hoài bữa đó. Nhớ đến rơi nước mắt khi hình dung ra gương mặt khắc khổ của bố con. Giá như ngày ấy con đừng xung khắc chuyện bố con có thêm mẹ ghẻ, có khi bây giờ con vẫn còn bố. Thành ra bây giờ con vừa không có bố, vừa không có mẹ. Tìm bố thì không biết ở phương trời nào. Tìm mẹ thì còn có thể, nên con mới xin về Việt nam và về đây. Thưa Cha,Cha có thể giúp con được không cha?

          Giám mục Phao lô San ngồi vẻ trầm mặc. Ngài không dám hứa cái gì. Đến ngài có lẽ là đời thứ tư hay thứ năm gì đó trị nhậm xứ đạo này. Ngày xưa, chỉ có một tòa giám mục ở xứ Bùi Chu. Sau này Đức Cha Phê- rô Thuận mới được điều về Thái Bình này chính thức thành lập địa phận Thái Bình. Họ đạo từ đó mở mang. Từ một họ đạo thành một xứ đạo rồi thành một địa  phận. Cùng với sự mở mang họ đạo là cả sự thăng trầm theo dòng lịch sử của đất nước. Chín năm chống Pháp, hai mươi mấy năm làm nghĩa vụ hậu phương. Thêm hơn hai chục năm hòa bình. Giám mục thì đã gần tám mươi. Còn ông khách ngồi trước mặt giám mục đây ngày ấy còn là một cậu bé, nay đã ra dáng một đức  ông rồi. Một mái tóc hoa râm, một cái cằm có những cọng râu thưa nhưng có vẻ cứng. Một cặp mắt đã nổi những u thịt dầy ở trên và dưới mí mắt. Bộ comple ông ta mặc bó lấy người,  vừa khéo thể hiện ông ta cũng có vẻ của một người quý phái có tri thức. Con người thay đổi là vậy nữa là khi vật đổi sao dời. Thêm một lần nữa ngài lại phải an ủi :

          -Được rồi ,chỉ chiều nay thôi Cha sẽ đưa con đi gặp ông Niệm ,ông ấy còn sống mà. Nhưng yếu lắm rồi.

          Bữa cơm trưa dọn lên. Có con gà luộc, béo vàng xuộm và có mấy lát lá chanh xắt chỉ. Một đĩa cà pháo. Một bát canh cua. Giám mục San nói như phân bua:

          - Có con cha mới làm thêm món gà luộc. Chứ nếu chỉ một mình cha, canh rau đay nấu cua ,với mấy quả cà pháo là đủ rồi. Để cha bảo người giúp việc rót cho con ly rượu. Rượu thánh từ bên Vatican gửi sang cho cha, nhưng không mấy khi cha uống, chỉ để dành tiếp khách thôi. Con hôm nay là khách của cha, nhưng lại là người của xứ này, xem như mừng cho con đã về đến quê mình.

          Lâu lắm rồi ông Phan mới được ngồi trước một mâm cơm như thế. Trong cái bát men sứ Hải Dương trắng muốt là những hạt cơm trắng không kém. Miếng thịt gà chặt khéo, vuông vức. Miếng nào cũng có kèm một miếng da và một lớp mỡ thực mỏng dưới da. Gà luộc chín tới, ngọt trong miệng và thơm nức khi cắn, xé và nhai. Lá chanh, phảng phất một chút hương vị đắng đắng , nồng nồng. Món thịt gà xem ra còn là quen thuộc với ông Phan, nhưng bát canh cua thì với ông quả là đã xa lạ lắm rồi. Ngày xưa, khi còn du học ở Mỹ, có lần về Sài Gòn, người ta thường đón ông bằng những bữa tiệc, món Tây nhiều hơn món ta. Có về nhà đó, nhưng rồi cũng bắp cải, sa lát, cải bông …Hết sào thịt bò lại thịt heo. Chẳng mấy ai cất công ra chợ mà mua mấy con cua về đâm ra nấu canh. Nếu có cua thì cũng là những con cua biển lớn, hấp muối hoặc xẻ ra xào lên với những lá rau đọc lên thấy tiếng Tây nhiều hơn tiếng ta. Rồi sang bên kia sống, bữa ăn bao giờ cũng những đồ nấu sẵn. Nhiều khi cả tháng trong nhà mới nổi lửa bếp ga. Nhưng hình như trong nhà không ai biết nấu ăn nữa. Toàn là những món ăn không cần dùng đến đũa. Nên lúc này ngồi trước bát canh cua, ông Phan lấy làm lạ lắm. Những tảng gạch cua xám, xốp nổi bồng bên trên. Bên dưới là những lá rau đay thái nhỏ, nằm lơ lửng ở giữa lớp nước sóng sánh. Có thêm vài lát mướp hương, tỏa mùi thơm dìu dịu. Bên cạnh là đĩa cà  pháo muối khéo , trái nào trái ấy tròn trịa, đều đặn và trắng tươi. Một cái bát kiểu nhỏ có một chút mắm tôm, đã nặn chanh, đánh sủi bọt làm mất đi màu xám đen vốn có của món ăn đặc xệt vùng quê này .Ông Phan chan một chút canh vào bát cơm. Giám mục San múc thêm cho ông một muôi nữa:

          - Con cứ ăn, đừng lo thiếu. Chan canh cua rau đay là phải chan nhiều một chút, mới ngon.

          Ngon thực. Thơm, mát, khêu gợi. Thêm một miếng cà pháo nữa, bao nhiêu dịch vị trong miệng hình như ứa ra hết để làm thỏa mãn người thưởng thức. Ông Phan bỗng muốn cởi phăng bộ comple ra, cởi luôn cả giầy tất, ném luôn cái cravat, muốn xoay trần ra trong bữa ăn đạm bạc này. Thảo hèn, những ông nông dân cứ đến bữa trời nóng, ăn cơm là phải đánh trần. Ăn uống kiểu này hình như đánh trần mới đã thì phải.

          Trưa hôm đó ông Phan nghỉ ngay dưới dàn nho không có trái ấy.Trong lòng như có lửa đốt. Đúng ra thì ông có quyền quên hết thẩy, chẳng nhất thiết phải nghĩ gì đến ai. Ngày rời Sài Gòn sang Mỹ. Với người ta thì vất vả, nhưng với ông thì không mấy khó khăn. Một chiếc xe Jép trờ tới, lặng lẽ đứng trước cửa nhà chờ đúng hai mươi phút chờ ông thu dọn những thứ cần thiết nhất để mang theo. Sau đó, chiếc xe hụ còi ầm ĩ lao ra cảng. Lúc đó, chưa thấy cảnh người ta xô xát bỏ chạy. Nhưng người tụ về cảng cũng đã đông nghẹt, nhưng có thứ tự chờ gọi đến tên mới xuống tầu. Chiếc xe có phù hiệu của Phủ tổng thống bươn ào ào ra cầu tầu.Viên sĩ quan lái xe chẳng cần chào hỏi, khi hai vợ chồng Phan và đứa con bước xuống, y ngoắt xe lao vào thành phố. Thay vào đó là một viên sĩ quan khác bước tới đón tay xách giùm vợ chồng Phan mấy cái va ly nặng chịch. Thoạt nhìn những người trên tầu là biết ngay họ là những người có vai, có vế trong xã hội. Trong bối cảnh lộn xộn như thế nhưng họ vẫn ăn mặc lịch sự. Phan biết, cuộc ra đi này của mình là do ông bố sắp đặt. Nhưng ông đi từ lúc nào , đi ra sao, ông không hề cho Phan biết. Bỗng nhiên Phan cảm thấy mình có lỗi vì đã đối xử quá bất công với bố mình. Chín năm trời du học nước ngoài, có lẽ cuộc sống xa nhà khiến Phan quên mất những tình cảm cần có trong một gia đình chăng? Có một cái may mắn, Phan không phải sống một ngày nào trong các trại tị nạn và cũng không phải sống chung chạ với những người Việt lưu vong. Nhờ chín năm du học mà khi sang tới Boston, Phan nhanh chóng kiếm được việc làm và nhanh chóng ổn định cuộc sống nơi đất khách. Sau này ,càng nghĩ Phan càng thấy bố mình đã lo rất xa. Lo đường rút chạy cho mình và cho cả đứa con. Kiếm sống hằng ngày, làm Phan quên đi khá nhiều. Nhưng ,sau khi đã có thể giao việc cho cậu con trai lớn trong cái tiệm thuốc Tây. Đã lo cho cô con gái vào trường đại học rồi. Lại có một biệt thự nhỏ ở ngoài ngoại ô Boston, nhàn hạ khiến Phan bắt đầu có những đêm dài trằn trọc không ngủ. Ông nhắn tin khắp mọi bang trong nước Mỹ. Nhờ bạn bè ở Pháp, ở Canada, ở Thụy Sĩ  để tìm tin tức về bố. Nhưng bặt vô âm tín. Đã có lúc ông nhắn tìm đến những tướng lĩnh cũ của Sài Gòn xưa ở Califoocnia, song chẳng ai  hồi âm. Càng nhắn tin đi càng vắng tin về. Phan càng thất vọng. Càng lâu sau cái ngày cuối cùng cha con gặp nhau càng làm Phan nhức nhối. Một ngày kia, ông quyết một lần về Việt Nam. Chí ít thì cũng biết được nơi chôn rau cắt rốn của mình nó ra sao. Ý nghĩ ấy mỗi ngày một nung nấu trong ông. Ban đầu cũng có một chút lo sợ, một chút e ngại. Nhưng rồi thấy người ta về rần rần, ông càng sốt ruột hơn. Vì thế mà hôm nay, ông đang nằm dưới dàn nho không có trái này. Những tiếng ve kêu hè râm ran ngoài những ngọn cây xà cừ quanh khu nhà thờ. Ông nghe cả tiếng con nít đang la hét ngoài kia tìm bắt những con ve đậu dưới thấp.Trên trời xanh ,chao nghiêng những cánh diều. Sân nhà thờ rộng, một bầy trẻ đang nghển cổ lên, ngắm những con diều mình mới thả. Ông có cảm giác mình đã thấy những cảnh này từ hồi nào, xa xưa lắm rồi .        

( còn tiếp)

NĐT

KÝ ỨC LÀM BÁO BINH NHÌ- bút ký của NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Trackbacks (0) Bản in góp ý (25)   
         Năm 1972 tôi nhập ngũ và trở thành một nhà báo quân đội. Chính những ngày đầu tiên trong quân ngũ ấy đã để trong tôi bao nhiêu kỷ niệm. Chuyện sau đây là một kỷ niệm không bao giờ quên được..
            
           
KÝ ỨC LÀM BÁO BINH NHÌ
         
         Lính thành cổ Quảng Trị 1972

           Đó là một ngày vào cuối tháng Tám năm 1972.  Cả một sư đoàn lính dù* của quân Nguỵ Sài Gòn  được lệnh bao vây và giải tỏa Thành cổ Quảng Trị lúc đó do quân giải phóng Quảng Trị đang trụ bám bảo vệ. Bom, pháo liên tục như trút xuống thành cổ. Khi bom pháo ngưng là lính dù ào lên, tấn công vào tất cả các chốt của quân giải phóng. Nhưng đã hơn hai tháng ròng, bom cứ trút, pháo cứ chụp, lính dù cứ tấn công, thành cổ vẫn vững vàng. Tôi và Nguyễn Dĩnh, hai nhà báo binh nhì được lệnh vào thành cổ để viết và chụp ảnh về những ngày chiến đấu căng thẳng ở đây. Gọi là nhà báo binh nhì là đúng với nghĩa đen của nó. Cuối tháng 2-1972 , khi mặt trận Quảng Trị rền tiếng súng. Một phần đất Quảng Trị, trong đó có Thành cổ được giải phóng thì Trường Tuyên huấn trung ương nơi tôi đang học , tuyển một lớp phóng viên đặc biệt mang tên: Phóng viên tiền phương. Nhập ngũ,  năm mươi phóng viên trẻ măng chúng tôi đeo lên vai quân hàm binh nhì và khoác ba lô hăm hở vào ngay Quảng Trị. Khi địch nống ra chiếm lại Quảng Trị thì phần lớn lớp chúng tôi đã ra Bắc, chỉ để lại chiến trường có bảy anh em, trong đó có tôi. Đến tận hôm đó, tôi cũng chưa được vào Thành cổ. Nên nhận lệnh tôi rất lo và hồi hộp. Hồi mới vào đi cùng chúng tôi còn có ít nhất là một cậu lính trinh sát dẫn đường. Còn hôm đó chỉ có hai chúng tôi, hai nhà báo binh nhì. Rời trạm giao liên T70  Bãi Hà ở Vĩnh Linh, chúng tôi theo con đường rừng luồn lách tìm xuống đường quốc lộ Một. Đó là đường ngắn nhất để xuống Thành cổ. Hai anh em cũng phải cách nhau chừng năm mét để tránh những bất trắc. Nhưng đến bờ sông Sa Lung đoạn trên , thì buộc chúng tôi phải sáp lại nhau để dìu nhau lội qua khúc sông không sâu nhưng chảy mạnh này. Vừa lên được bờ bên kia thì bỗng đâu giống như có tiếng sét nổ trên đầu. Cả hai chúng tôi cùng kinh hoàng. Vừa trấn tĩnh được chút ít thì lại nghe tiếng ì ì đâu đó rất gần. Nguyễn Dĩnh hét lên: 
         - Mẹ kiếp, máy bay…
         - Máy bay gì bay thấp thế?
          - F8U.
          - F8U là gì- Tôi hỏi.
         - Biết quái đâu được. Chạy đi không nó tương cho trái rốc két chết bây giờ…Chúng tôi khoác vội chiếc ba lô, xốc lại dây đeo súng và lúp súp chạy theo con đường mòn từ bờ sông lên. Nhưng chúng tôi quên, chỉ lên hết con đường đó là gặp một cánh đồng trống không. Nhưng cũng yên tâm vì không còn thấy bóng dáng chiếc máy bay đâu nữa. Bỗng nghe một tiếng động chói tai. Chiếc máy bay lúc nãy giống như con yêu tinh hiện ra ngay trên đầu chúng tôi, tưởng như có thể với tay là đụng được nó. Dĩnh lại hét lên: “ Chạy”. Biết chạy đường nào. Xuống ruộng thì lầy, quay lại rừng thì xa. Chỉ có mỗi một con đường bờ ruộng thôi. Đành nhắm mắt mà chạy chớ biết sao bây giờ. Ba lô nẩy xóc trên lưng, súng ngắn đập vào dò. Túi mìn Cơ-lây-mo trong đó có cái máy ảnh Pratica đập vào bụng. Chiếc máy bay lại xà xuống, lần này nó không còn hăm doạ nữa mà xỉa xuống hai chúng tôi một tràng đạn súng máy. Đạn cày trên mặt đất cách chúng tôi chừng hai chục thước.  Kiểu này là nó muối xơi tái hai chúng tôi rồi. Phải liều thoát thân thôi. Chúng tôi chạy thục mạng. Dĩnh cao dò nên chạy trước tôi. Anh quay lại la lên: “ Kiếm cái bờ ruộng mà nấp vào”. Tôi hiểu ý anh: mỗi lần chiếc máy bay chúc xuống thì sau đó buộc nó phải nhao lên, quay ngược lại và phải bay lên thật cao rồi mới bổ nhào xuống. Thế là cuộc đuổi bắt diễn ra thực lý thú. Mỗi lần chiếc máy bay chúc xuống là một tràng súng lại rộ lên, những viên đạn cầy lên mặt đất. Chúng tôi như chọc tức nó. Khi tràng súng vừa nổ, chúng tôi lại bật dậy ào ào chạy tới. Nó quay ngoắt lại, bổ nhào nữa. Không biết chúng xả bao nhiêu tràng súng, và chúng tôi chạy không biết bao nhiêu đường đất. Thêm một lần bổ nhào nữa mà không thấy súng nổ, Nguyễn Dĩnh đứng vụt dậy la lên: “Hết đạn rồi hả? Chơi nữa không mày?” . Vừa hét xong đã thấy chiếc máy bay ngóc lên. Rồi, nó phát hiện mục tiêu rồi. Lần này thì toi. Dĩnh rút ngay khẩu K54 bên ngươi, lên đạn nằm phục xuống. Khi chiếc máy bay xà xuống thêm một lần nữa, Dĩnh đứng dậy. Sau một câu chửi thực tục , anh bấm một lúc hết luôn cả băng đạn trong khẩu K54. Tôi quên nguy hiểm phá lên cười: “ Máy bay Mỹ có ghẻ đâu mà mày gãi, Dĩnh” . Dĩnh buông thêm một câu chửi tục nữa rồi cũng phá lên cười. Ô hay, thế mà cái máy bay bay đi luôn. “ Hết mẹ nó đạn rồi, bọn Mỹ này sài sang thực. Có hai thằng binh nhì mà tốn mấy thùng đạn mà không ăn thua gì.” Dĩnh nói thế và lại bật cười. Cả hai chúng tôi, người chạt sình bùn. Hai chiếc ba lô quăng đi từ lúc nào. Trên người chỉ còn có những cái túi máy ảnh và khẩu súng. Chúng tôi vừa thở, vừa quay lại tìm ba lô. Trong đó ngoài một bộ quần áo, lương khô cón có thêm cái tăng và cái võng. Đó là hai thứ không thể thiếu trong chiến trường. Tăng che mưa che nắng, còn để bó xác lỡ hy sinh. Võng để thay giường ngủ. Nhưng nó còn để cáng khi lỡ bị thương. 
          Quá trưa, chúng tôi đến bờ sông Bến Hải. Trong những ngày ở mặt trận Quảng Trị, đã mấy lần tôi có mặt ở bờ sông này. Lần nào cũng xúc động. Cây cầu Hiền Lương còn đó. Chiến tranh đã khắc lên mình nó những vết thương. Lâu nay, không còn người, không còn xe chạy trên cây cầu ấy. Đó là Vĩ tuyến 17, nơi cách chia hai miền Nam Bắc suốt bao năm trời. Giải phóng Quảng trị, rồi sẽ giải phóng Miền Nam, nơi này sẽ không còn là giới tuyến nữa. Tôi bảo Nguyễn Dĩnh: “ Hôm nay không đi đò nữa. Bơi qua sông?”. Bơi hả. Thì bơi. Nhưng bơi ở chỗ nào?” . “ Ngay chân cầu Hiền Lương này!”. “ Điên hả mày? Thủy lôi, bom từ trường, đầy dưới đó đó” . “Thằng F8U lúc nãy ngay trên đầu còn chẳng sợ, còn thủy lôi, bom từ trường toàn nghe người ta nói. Một lần thôi, bơi được qua sông Bến Hải, là sướng rồi”. Chúng tôi bỏ tất cả mọi thứ vào một cái bao ni lon, loại bao gạo của Trung Quốc. Thế là thành một cái phao. Chúng tôi lội xuống nước. Nước sông Bến Hải vào mùa tháng Tám miền Trung nóng như rang, mát lạnh. Chúng tôi cứ lần theo chân cầu Hiền Lương mà bơi qua. Trong cuộc hành quân vào mặt trận, đã bơi qua sông Hiếu, đã lội dòng Sa Lung, đã ngoi ngóp trên dòng sông Thạch Hãn, đã tắm ở dòng sông Mỹ Chánh, nhưng nước mát của dòng sông Bến Hải hôm đó in hoài trong trí nhớ tôi.

            
            Một lần gặp lại cầu Hiền Lương - năm 1992

          Thành cổ Quảng Trị đã cho tôi hàng loạt bài viết. “ Trận địa phía Tây Nam Thành cổ” in báo Nhân dân. Kể về một cuộc bám chốt giữ đất hất tung những cuộc tấn công của lính dù Ngụy ra khỏi thành cổ. Ngày ấy chúng treo giải: đứa nào cắm được một lá cờ ba que lên tường thành cổ sẽ được thưởng hai mươi ngàn tiền Ngụy và 10 ngày nghỉ phép. Nhưng chỉ một cái cờ bằng bàn tay chúng cũng không cắm được lên mặt thành Tây Nam. Bài "Tổ chốt Hán Duy Long" đăng báo Tiền phong kể về một tổ chốt có 4 người Long, Tam, Nghinh và Sừ , một ngày đánh không biết bao nhiêu trận. Giếng nước trong thành cổ lẫn xác người chết đã thối. Nước uống phải chuyển từ ngoài vào cho mỗi người, mỗi ngày chỉ có có một bi đông. Hai bi đông nước bị đạn thủng. Một bi đông chia nhau uống. Bi đông cuối cùng được biến thành giải thưởng. Ai bắn được một tên lính dù sẽ được thưởng một ngụm nước. Đến cuối ngày bi đông nước còn nguyên môi ai cũng khô rát mà không ai muốn uống. Trận tấn công cuối ngày ồ ạt, khẩu trung liên đỏ nòng, đạn bắn ra vãi ngay trước mặt. Những giọt nước từ chiếc bi đông tưới lên nòng súng. Khẩu súng lại lên tiếng. Tổ chốt Hán Duy Long sau đó được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang. Tôi còn bài viết về Đỗ Mến,tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng trị đã cùng đơn vị bám trụ suốt hơn 80 ngày trong thành cổ. Đơn vị sau này đã cũng được tuyên dương anh hùng. Bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu bài viết, trong những ngày làm báo ở Quảng trị vậy mà nước mát dòng Bến Hải hồi đó không quên trong ký ức người làm báo như tôi.
          Nguyễn Dĩnh bây giờ là đại tá, phó cục trưởng cục Văn hoá tư tưởng, Tổng cục chính trị quân đội nhân dân Việt Nam. Mới đây, có dịp lên Tây Ninh, anh đã tìm tôi. Thời gian chỉ đủ để chúng tôi nhắc lại cái ngày bơi qua sông Bến Hải và cười nhớ cảnh Nguyễn Dĩnh dùng súng ngắn bắn máy bay ngàyxưa!                                                                                    

         NGUYỄN ĐỨC THIỆN.
 

TRƯỜNG SƠN TÍM - thơ của NGUYỄN HUẤN

THƠ CỦA BẠN BÈ Trackbacks (0) Bản in góp ý (5)   

         Nguyễn Huấn, cậu em tôi hiện đang côngg tác ở Đài tiếng nói Việt Nam đã đếnn và đọc MÙAHOA XOÀI , truyện ngắn của tôi và đã viết như sau: " Đọc "Một mùa hoa xoài" trên TC VNQĐ và nghe CCTT trên Đài TNVN rồi, bây giờ đọc trên blog vẫn thấy bâng khuâng .Nhân ngày kỷ niệm thiêng liêng của QĐNDVN 22.12 chúc người lính già NĐT luôn sung mãn, lúc nào cũng dồi dào bút lực để sẵn sàng "ra trận".
         E gửi bác bài thơ về Trường Sơn và lời bình để tưởng nhớ đến những đồng đội của chúng ta .
         NGUYỄN HUẤN
         

      TRƯỜNG SƠN TÍM

         Ấy là mầu hoa dại
         Tím ngát Nghĩa trang Trường Sơn
         Lẫn trong bạt ngàn thông biếc
         Rực lên trong nắng ngập hồn
         Tím ơi nói gì với cỏ
         Tím ơi nói gì với mây
         Đồng đội cha tôi nằm đấy
         Nói gì đi chứ đất dầy
         Tiếc thương hoá thân vào lá
         Tháng năm kể mãi oai hùng
         Đầu nguồn sông ơi Bến Hải
         Lời ca vang vọng con đường
         Hôm nay ai về cam Lộ
         Chang chang nắng gắt Gio Linh
         Thắt lòng cánh hoa mướt mát
         Tím ơi nghèn nghẹn tim mình
         Đường Gio An mờ bụi đỏ
         Cồn Tiên, Dốc Miếu thủa nào
         Âm vang từng hồi pháo dội
         Giờ còn vương chút nôn nao
         Rừng cao su gió xôn xao
         Em gái Vân Kiều thầm hát
         Tím hoa như ngàn nốt nhạc
         Tính tinh vang tiếng Ta lư
         Trường Sơn sẽ còn tím mãi
         Thuỷ chung người đã ra đi
         Mỗi cánh hoa rừng rơi xuống
         Tái sinh ngăn ngắt câu thề .
         Viếng Nghĩa trang Trường Sơn
         6.2009

         LỜI BÌNH CỦA PHAN HÀ LINH
         Trường Sơn tím 
         - một bài thơ hay và xúc động
*
         Chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau khi đi viếng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn về, Nhà báo, Nhà thơ, Nghệ sỹ Nguyễn Huấn đưa cho tôi xem bài “Trường Sơn tím” mà anh vừa sáng tác. Đọc bài thơ, tôi lặng người hồi tưởng và cảm phục sự quan sát tinh tế của anh. Không tinh tế sao được - khi cái nắng mùa hạ chang chang dội xuống một vùng đất bạt ngàn gió, bạt ngàn bia mộ mà anh đã nhìn ra một màu tím huyền ảo mơ hồ trong một không gian rộng và thời gian hẹp như vậy. Thật ra đây không phải nhờ thời gian đôn hậu, mà nhờ cái nhìn đời đôn hậu, nên bài thơ “Trường Sơn tím” của Nguyễn Huấn đã mang đậm chất văn.
         “Tím ơi nói gì với cỏ
         Tím ơi nói gì với mây
         Đồng đội cha tôi nằm đấy
         Nói gì đi chứ đất dày”...
         Viết về Liệt sĩ - một đề tài không mới và không dễ, bởi cuộc chiến đã lùi xa và cuộc sống trước mắt đang mở ra những chân trời mới, hơn nữa những chất liệu đắt giá đều được dùng để xây nên những tượng đài vĩnh cửu. Thế nhưng qua bó hương bốc lửa giữa nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn mùa hạ, Nguyễn Huấn đã có cái nhìn sâu thẳm - đó là những hình ảnh chất chứa bao dự phóng giúp anh đẩy xa những liên tưởng, suy tưởng, những không gian xa rộng. ở đó, lòng tin và ý chí được thăng hoa. Và vì vây, anh viết “Trường Sơn tím” như mở trang giấy của tâm linh trên mảnh đất này bằng cách lật ngược lại chính mình từ trong khoảng không gian và thời gian đã đi qua và đang hiện thân ra trước mặt.
         “Tiếc thương hóa thân vào lá
         Tháng năm kể mãi oai hùng
         Đầu nguồn sông ơi Bến Hải
         Lời ca vang vọng con đường”.
         Trong mông lung màu tím, Nguyễn Huấn đã cho ta nhìn thấy cảnh thực, người hư, người thực, cảnh hư- một ảo ảnh quyện kết được hóa thân từ màu tím của hoa dại Trường Sơn - một loài hoa mà người dân địa phương thường gọi là “Hoa trường sinh”, bởi khi mỗi một cánh hoa rụng xuống nó mang theo một mầm sống cho một cây hoa khác mọc lên từ cánh hoa.
         “Trường Sơn sẽ còn tím mãi
         Thủy chung người đã ra đi
         Mỗi cánh hoa rừng rơi xuống
         Tái sinh ngăn ngắt câu thề”.
         Có thể nói, “Trường Sơn tím” là một bài thơ mạch lạc về tiết tấu, nhạc điệu - đặc biệt là anh đã biết dùng các điển tích, điển cổ để tăng thêm những tầng nghĩa khác cho thơ. Kham khổ mà đạo lý; hiền lành mà khẳng khái; da diết mà nghiêm nghị và một đôi mắt cứ vời vợi dõi theo bước con đi trong suốt chặng đường đời. Trong không gian hai chiều quá khứ và hiện tại đan lồng vào nhau và cũng nhờ những chiều không gian hư ảo đó mà chân dung của một hồn thơ càng thêm sáng rõ.
         “Đường Gio An mờ bụi đỏ
         Cồn Tiên, Dốc Miếu thuở nào
         Âm vang từng hồi pháo dội
         Giờ còn vương chút nôn nao”.
         Giọng thơ hai chiều đã quyện chặt, trói chặt vào nhau như từ trong cảm hứng của tâm tưởng thơ làm nên một lực hút, lực say như ám ảnh. Thơ anh như một lời tự sự, thủng thẳng, chân chất, thủy chung và đôn hậu của tâm hồn làm lay động lòng người. Quá khứ được đồng hiện trong hiện tại, nâng ước mơ và khát vọng bay cao, bay xa. Thơ Nguyễn Huấn bao giờ cũng được dựa vào một hình ảnh biểu trưng, qua đó anh triết luận về thời gian, về lý tưởng và lẽ sống.
“Hôm nay ai về Cam Lộ
         Chang chang nắng gắt Gio Linh
         Thắt lòng cánh hoa mướt mát
         Tím ơi nghèn nghẹn tim mình”.
         Chỉ một khổ thơ, nhưng tràn ngập khoảng trời đủ sắc màu - đó chính là biểu trưng của mơ ước, hy vọng và tri ân. “Trường Sơn tím” là kết quả của sự chiêm nghiệm hòa quyện rất nghệ thuật giữa lý trí và tình cảm, biến những điều bình thường gần gũi của cuộc sống trở nên có linh hồn và tự nó mang một sứ điệp, một sự đồng cảm, sẻ chia. Tư tưởng, tình cảm và trí tưởng tượng của Nguyễn Huấn trong “Trường Sơn tím” một lần nữa cho phép ta khái quát được thế giới tâm hồn mang sự thăng hoa của nỗi đau kiêu hãnh và nỗi khát khao thầm lặng. Chủ thể thẩm mỹ của “Trường Sơn tím” không gì ngoài sự tri ân, biết yêu quý và nâng niu quá khứ. Nội dung tư tưởng của bài thơ được thống nhất trong một ý nghĩa cực kỳ đơn giản nhưng rất đậm nét nghệ thuật mang tính vận động với niềm rung cảm sâu xa. Điểm lớn này sẽ giúp độc giả nắm bắt được cá tính sáng tạo của Nguyễn Huấn trong “Trường Sơn tím”, đem đến cho họ một khoái cảm thẩm mỹ nhiều lúc nằm ngoài cái đẹp hình thức. /.
         Quảng Trị - Hà Nội
         Tháng 12/2009
 

MÙA HOA XOÀI - truyên ngắn của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( tiếp theo và hết)

Truyện ngắn Trackbacks (0) Bản in góp ý (20)   

         

         Các cô gái sau ít phút huyên náo đã túa đi. Chỉ còn Thắng ở nhà với Thiêm. Thắng bảo anh:
          
- Anh Thiêm, anh ra đầu giường cái Ngọc mà xem … 
         Không khác các bạn bao nhiêu. Một chiếc giường con. Một chiếc giá có chiếc ba lô xếp gọn gàng, vuông vắn. Chiếc chăn đơn xếp thẳng nếp. Đôi dép nhựa để bằng bặn dưới gậm giường. Thiêm đứng lặng đi bên chiếc giường giản dị của Ngọc.
         - Anh không thấy gì sao? Tiếng Thắng làm Thiêm giật mình. 
         Anh lúng túng :
         - Không … không Thắng ạ !
         Thắng tới bên anh:
         - Đây này …
         Một tờ báo dán ở đầu giường. Một giòng chữ đậm chạy ngang tờ báo. Viết về anh. Đúng rồi, bài báo ấy viết về anh và trận đánh có một không hai của anh ở biên giới.“ Ngọc ơi. Hôm ấy, tụi lính áo đen từ bên kia biên giới đã tràn sang. Chúng nó mê muội lăn tới với một sự hằn thù dân tộc độc địa không biết bởi ai đã tạo dựng lên. Chốt Phước Tân chỉ còn có năm anh em. Năm anh em đấu lưng vào nhau mà chống lại những trận tấn công ào ạt của chúng. Anh được phân công một mô đất. Mô đất ấy đã nhàu nát vì đạn cày xới. Một đám cỏ xanh còn rơi rớt lại cũng đã xơ xác lá. Nhiệm vụ của anh là không cho bất cứ đứa nào đạp chân lên mô đất trước mặt. Năm sáu cái xác áo đen đã gục ngã ở đó. Nơi ấy thành điểm đích của những viên đạn của anh. Nếu chúng nó vượt qua được mô đất ấy, tức là khởi đầu của chết chóc. Sẽ có lửa cháy trong các làng mạc. Sẽ là lưỡi lê xọc qua ngực các cụ già. Sẽ là các bàn tay man rợ xé đôi các em nhỏ. Sẽ là những lưỡi dao bén ngọt mổ bụng, xẻo vú phụ nữ, sẽ là lưỡi cuốc, lưỡi búa đập vào gáy con người. Và anh … nếu chúng nó đạp chân được lên mô đất đó tức là anh sẽ không tồn tại nữa. Anh không thể chịu được sự vô lý đó, nên mũi súng của anh cứ găm vào mô đất có khóm cỏ xanh xơ xác đó. Dẫu là trước lúc vào mặt trận  anh đã có dặn em đừng đợi chờ gì người ra mặt trận, nhưng lúc đó anh không thể chết. Vì chính lúc đó, anh yêu em đến vô cùng. Chúng nó không thể giết được anh, khi trong anh đang sống vẹn nguyên tình yêu của em. Ba ngày trời, mô đất ấy còn, mà chúng nó phải rút quân. Nên hôm nay anh đã trở về…”
         Thiêm nhớ về trận đánh hôm nào. Bên anh, Thắng nói như tâm sự :
         - Ngọc nó không có tấm ảnh nào của anh.Hôm đọc bài báo này nó khóc. Hồi đó, em chẳng hiểu vì sao nó khóc. Bây giờ, khi em đã có một người để em nhớ, thì … em hiểu. Nó dán bài báo này lên đầu giường. Một lần, lơ đễnh, em treo chiếc áo lên đó, nó giận em mất mấy ngày liền. 
         Có tiếng còi xe. Thắng lắng nghe rồi lắc đầu: 
         - Không phải Ngọc !
         Một chiếc xe từ từ vào sân. Thắng chạy ra gọi vang lên: 
         - Anh Trung ơi, anh Trung. Cái Ngọc về tới đâu rồi… 
         Một giọng nói rất khô, át cả tiếng xe đang chạy rù rì:
          
- Còn lâu ! Không ai tham lam như nó. Còn nằm bết ở đằng sau đó. Chất được lá rồi còn ấn thêm một lô, một lốc củi nữa . Chờ sốt cả ruột ! Mà cơm nước gì chưa ? Đói lắm rồi đây… 
         Thắng gọi xuống nhà bếp sắp cơm cho anh lái xe rồi quay vào nói với Thiêm .
          - Nó thế đấy anh Thiêm. Rồi lát về đói mềm người cho mà xem.
         Thiêm bồn chồn lo cho Ngọc. Không biết sẽ có chuyện gì trên chặng đường trên năm chục cây số kia. Nắng trưa đã xế, Thiêm càng thêm lo. Ngọc ơi, chắc em không thể ngờ được anh đang đợi em ở đây. Thiêm bồn chồn. Nỗi bồn chồn lây cả sang các bạn của Ngọc. Bữa cơm dọn ra, mỗi người chỉ xới một, hai lưng bát chiếu lệ . Khi bóng nắng đã đổ dài mới chợt nghe tiếng còi xe lanh lảnh ngoài cổng. Lần này, Thắng reo to:
         - Ngọc về đó, anh Thiêm. Nghe tiếng còi xe của nó là biết ngay. Một dài, hai ngắn… không lẫn vào đâu được. Anh không được ra nhé. Để em  cho nó một trận.Một chiếc xe mô nô từ từ vào sân. Chiếc xe nhuốm đầy bụi đỏ, vặn mình trườn qua mấy ổ gà hằn những vệt bánh xe. Một hồi còi nữa thúc lên. Tiếng phanh hơi xì mạnh. Chiếc xe nép gọn vào góc sân. Cửa xe mở rồi xập mạnh. Tiếng Ngọc vang lên :
         - Thắng! Cơm cho tao, tao đói chết đi được rồi đây.
         - Ai bảo về muộn. Tao ngỡ tướng nào bắt mất mày rồi đấy !
         - Bắt bớ gì ? Xe hỏng. Cái ông Trung chết tiệt. Hôm qua tao nhờ xem lại cho tao cái hộp số… Mà quỷ tha ma bắt mày đi. Tính tao hay quên, nhờ mày bao nhiêu lần mà cấm có nhắc tao. Quên tiệt bộ đồ nghề ở nhà. Khỉ thế. Lên được cái đèo “ba mốt” là liệt. Chờ mãi mới gặp được ông “gin khơ” đi qua…
         Thắng cười :
         - Thảo nào. Người mày lem luốc thế kia. Ông Thiêm mà gặp mày lúc này, ông ấy chê chết đó!
         - Chê hả? Chê thì cho ông ấy nếm “ma-ni-ven …”
         Thiêm xốn xang. Tim anh đập rộn lên, mặt nóng bừng. Thắng cười nắc nẻ. Ngọc bật cười theo. Tiếng cười mỗi lúc một lại gần anh. Anh không nén được nữa, vội chạy ra:
         - Ngọc!
         Ngọc đứng sững lại. Lát sau mới thốt ra được :
         - Anh!
         Rồi Ngọc cứ đứng thế nhìn anh, mắt không hề chớp. Một bàn tay dơ lên gãi má. Một vệt dầu đen quệt nhẹ lên đấy. Thắng cười vang, nghịch ngợm đấm nhẹ mấy cái vào lưng Ngọc rồi chạy ào xuống bếp, để mặc hai người đứng lặng nhìn nhau.
         *
         *    *
         Bạn bè của Ngọc dành những phút cuối cùng của buổi chiều cho hai người. Hai người đưa nhau đi dạo trên một sườn đồi lúp súp sim mua. Hoa mua đã nở tím sườn đồi. Những chùm quả sim non đã sai líu ríu ở các kẻ lá. Lớp cỏ non xanh rờn phủ nhẹ lên lớp sỏi cơm. Nắng đã nhạt. Gió thổi mát rượi. Mái tóc mới gội bằng cây bồ bồ của Ngọc xỏa ra, bay lất phất. Hương bồ bồ tỏa ra từ mái tóc ấy thơm dìu dịu.Đi đã khá lâu mà Ngọc không nói gì. Khuôn mặt đầy đặn với cặp mắt hơi hiếng của Ngọc trở nên trang nghiêm lạ lùng. Cặp môi dầy, trễ xuống như hờn giận. Khi tới được đỉnh đồi, Ngọc mới hỏi Thiêm : 
         - Bao giờ anh đi, anh Thiêm.
         - Vài hôm nữa, Ngọc ạ !
         Ngọc thở dài :
         - Hôm nay, anh ở đây với tụi em. Rồi mai anh đi đi …
         Thiêm dừng lại, nhìn Ngọc :
         - Sao thế, Ngọc.
         Ngọc sẽ sàng nói :
         - Anh đi … và đừng quay lại đây nữa …
         - Ngọc ! Em nói gì mà lạ thế.
         Ngọc cười, một nụ cười buồn rười rượi :
         - Có gì mà lạ … anh !
         Như người bị choáng, Thiêm không nói được một lời. Còn Ngọc, Ngọc nói rành rẽ từng lời một, như đã được chuẩn bị từ lâu.
         - Chúng ta xa nhau ba năm rồi, phải không anh. Năm đầu, anh còn thư cho em. Lúc lên biên giới Tây – Nam, anh bặt tin luôn. Em thì chờ đợi. Còn anh thì … Anh còn nhớ thư cuối cùng anh viết cho em không ? “Nơi anh đến, chiến sự đang ác liệt. Đừng đợi chờ gì người ra trận. Anh không dám hẹn ngày trở về. Chúc em hạnh phúc …”. Thế rồi biền biệt. Anh Thiêm, anh tưởng ai ra mặt trận rồi cũng hy  sinh cả hay sao? Anh muốn hy sinh tình yêu trước khi hy sinh tính mạng chăng ? Trời ơi! Em đã nói với bạn bè rằng? Em chỉ yêu có một lần. Mấy năm qua, vắng anh, có người tìm đến em, hứa hẹn đủ điều. Nhưng bên em chỉ có anh. Em chờ và em yêu … Em cắt bài báo viết về anh dán lên đầu giường, không phải em khoe với bạn bè về chiến công của anh. Em cần dòng chữ ghi đủ tên anh trong đó. Bao ngày tháng đợi chờ em mới có được dòng tên đó, em không dám so sánh sự chờ đợi với sự hy sinh ngoài mặt trận. Nhưng anh không được quên rằng chờ đợi cũng là một sự hy sinh. Hôm nay, anh về đây, mai anh lại ra mặt trận, anh lại thư về:”… đừng đợi chờ gì người ra mặt trận… “ Rồi anh có cần biết gì đến những chờ đợi của người ở nhà… 
         Thiêm nghe, miệng anh đắng ngắt. Trận đánh trước kia lại thoáng hiện ra trong anh. Hôm đó, đã có lúc anh chợt nghĩ :”Có chết cũng chết tại trận địa. Duy chỉ với Ngọc… Nhưng không sao, mình đã khuyên Ngọc đừng chờ gì… “ . Lúc đó, anh cảm thấy trong lòng thanh thản. Anh có biết đâu rằng, chính lúc đó, Ngọc cháy lòng chờ đợi tin anh. Thắng chạy ào ra đón Thiêm và Ngọc:
          
- A ! Anh chị ăn mảnh hả?… ớ… làm sao mày lại khóc… Ngọc?
         - Thắng!… anh ấy… lại vào mặt trận… 
         - Thì anh ấy đã vào mặt trận…  mày có khóc đâu?
         *
         *    *
         - Đó là lần cuối cùng tôi gặp Ngọc, Mơ ạ!- Thiêm tiếp tục câu chuyện. Hoa xoài vẫn rụng lả tả trên đầu hai người. Vào lúc đó, Mơ bảo tôi còn làm gì được nữa? Thanh minh chăng? Có gì để mà thanh minh? Xin lỗi ư? Không đủ. Một sống, một chết với kẻ thù còn có người biết đến để mà viết lên mặt báo. Còn sự chờ đợi của Ngọc kia, lấy gì mà đo tính được. Mấy năm trời đằng đẵng Ngọc mong mỏi chờ tin của tôi. Vậy mà tôi… tôi ngỡ mình cao thượng. Tôi cho rằng mình dám hy sinh. Không ngờ… tôi đã vô tình xem thường sự hy sinh của Ngọc. Tôi trở lại Tây Ninh với những trận đánh dằng dai kiểu khác. Vật kỷ niệm duy nhất tôi mang theo là những lá thư của Ngọc. Nhưng tôi không dám đọc lại những lá thư ấy nữa. Thực tình, tôi tự thấy… tôi chắc, Ngọc chẳng thể tha thứ cho tôi, nên tôi lại không viết thư cho Ngọc. Tôi biết, tôi không thể tránh được một lần thanh minh. Mà dù có thanh minh thế nào đi nữa cũng không xoá lấp được mặc cảm nơi Ngọc với mấy năm đợi chờ kia… Hơn một năm nữa lại qua rồi. Trước lúc bị thương, tôi có gặp Vinh, em trai của Ngọc đang trên đường hành quân sang giúp bạn. Tôi được biết Ngọc vẫn đang ở đơn vị cũ. Vẫn lái chiếc xe mô nô. Tôi có dò hỏi Vinh, nhưng không thấy Ngọc nhắc gì về tôi nữa… Thế đấy, Mơ… 
Mơ im lặng nghe Thiêm kể. Mắt Mơ lại dõi nhìn ra ngoài đồng xa, nơi có những con cò trắng phau đậu xuống, bay lên. Mơ nhắc .
         - Ta về thôi, anh Thiêm ! Mai sớm….  em ra bến xe… 
         - Sao? Mơ đi đâu? - Em về dưới nhà ít bữa… 
         Thiêm bước nhẹ bên Mơ. Anh băn khoăn nghĩ : không hiểu câu chuyện về Ngọc để lại cho Mơ suy nghĩ gì. Có cái gì trong câu chuyện có thể làm cho Mơ buồn anh? 

         

         III

         Sáng hôm sau, không thấy Mơ đến phòng điều trị của Thiêm nữa. Có lẽ Mơ về dưới quê thiệt. Gần tháng trời, vào những buổi chiều Thiêm đi dạo một mình trên con đường ven bờ kinh quen thuộc. Anh dò hỏi tin Mơ qua cô y tá mập tròn như hạt mít, cô ta chỉ cười, vẻ bí mật. Con đường trở nên quá vắng vẻ đối với Thiêm. Đến bên gốc xoài, anh dừng lại. Đã hết mùa bông xoài nở. Trong kẻ lá xanh non đã thấy nhú ra những trái xoài non, bụ bẫm. Bây giờ, anh mới chợt thấy gốc xoài xù xì quá. Những lớp cành đan vào nhau, cong queo, khúc khuỷu.
Thiêm nhớ Mơ. Có thực một lần nữa anh yêu? Sao Mơ lại vội vàng xa anh ngay sau câu chuyện về Ngọc. Mơ em, sao em lại trách quá khứ?…  
         Sáng nay, cũng như bao sáng khác. Bao giờ bắt đầu cũng là chim sẻ ríu rít gọi nhau trong các hốc cột, rồi rủ nhau từng đàn, từng lũ bay vù vù khắp sân bệnh viện. Một làn gió sớm thổi lùa vào các ô cửa sổ. Nắng sớm chói chang hắt chéo vào phòng, đậu lên nền gạch bông sáng lắp lóa. Thiêm từ từ mở mắt. Anh rất quen những buổi sớm thế này với Mơ. Mọi khi, giờ này Mơ sẽ bước vào. Mơ sẽ thức anh dậy, đưa anh ra lan can, đứng ngắm những bồn bông trước mặt và hít thở không khí trong lành buổi sớm. Dạo này, Thiêm không ra đấy nữa. Anh nằm, chờ kẻng báo giờ ăn sáng rồi mới dậy. Hôm nay, cũng vậy, anh chờ đến giờ đó.
         Bỗng cánh cửa xịch mở. Cô y tá béo tròn như hạt mít đến. Vừa bước vào cô đã nói ngay với anh:
         - Anh Thiêm, anh ra ngoài phòng khách đi. Có người chờ anh ở ngoải. Mà lẹ lên nhen, sắp tới giờ ăn sớm mai rồi đó ! …
         Thiêm ngỡ ngàng. Ai vậy. Từ ngày nằm viện, anh dấu biệt không hề cho ai biết mình bị thương. À phải rồi, anh em cùng đơn vị tới chớ ai nữa. Anh mặc vội quần áo, bước vội ra khỏi cửa, tắt vội qua sân bệnh viện. May quá. Tụi nó tới, mình sẽ biết đích xác địa điểm đóng quân, nay mai ra viện, khỏi phải tìm.Thiêm đi nhanh về phía nhà khách. Anh bước lên thềm, mở cửa. Anh đừng phắt lại. Người anh nóng ran lên, cái nóng lan cả lên mặt. Giọng anh thảng thốt:
          
- Ngọc !
         Đúng, trước mặt anh là Ngọc. Khoẻ mạnh trong bộ quân phục còn mới. Chiếc mũ mềm có ngôi sao lấp lánh. Bím tóc dài đã kẹp gọn thả hai bên vành mũ. Ngọc nhìn anh bằng đôi mắt đằm thắm nhưng giận hờn. Ngọc mấp máy môi :
         - Vâng… anh!
         Thiêm tới bên bàn, ngồi xuống và vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì sự xuất hiện của Ngọc. Và, anh cũng không làm sao tránh được cặp mắt giận hờn nơi Ngọc .
          
- Anh… em phải đi tìm… Sao anh vẫn cứ thế? – Ngọc nói, giọng trách móc.
Thiêm hỏi Ngọc: 
         - Sao Ngọc biết anh ở đây? Ngọc kéo chiếc túi mang theo. Cô lục lọi trong đó một lát rồi đưa cho Thiêm một bì thư, có đóng con dấu bảo đảm. Ngọc lẳng lặng đưa cho Thiêm những dòng chữ đầu tiên đập vào mắt Thiêm :“Chị Ngọc thân mến !Em là Mơ ở Viện Quân y Tây Ninh …”
         Thiêm muốn kêu lên một tiếng, nhưng cổ anh nghẹn cứng lại. Bức thư rung rung trên tay Thiêm. Anh cúi xuống, đọc tiếp :“Chị Ngọc ơi !Em đã được nghe anh Thiêm của chị, kể về chị. Em đã làm một việc mà anh Thiêm không biết : mở gói thơ của chị, tìm địa chỉ và viết cho chị thơ này. Em nghĩ : chị vẫn còn yêu ảnh và ảnh cũng rất yêu chị. Có phải thế không chị ? Em tin, nhận được thơ này thế nào chị cũng tìm tới ảnh. Hai người làm sao sống thiếu nhau được. Chị tới với ảnh đi …”
         Thiêm đọc ngốn ngấu từng chữ một. Ngọc ngồi yên lặng theo dõi ánh mắt của Thiêm đang lướt trên trang giấy :Bây giờ, xin phép chị cho em nói đôi lời với anh Thiêm. Anh Thiêm ! Anh còn nhớ cây xoài mà chúng ta vẫn đứng không ? Em đố anh biết, vì sao khi hoa xoài rụng lại báo hiệu một mùa cho trái, mà lại là thứ trái bầu bầu xinh xinh, để khi xuân qua, hè tới sẽ có những trái vàng ươm, chua chua, ngọt ngọt dễ thèm … ? Tạm biệt anh, anh hiểu cho Mơ nhen !”
         Thiêm xếp lại bức thư. Ngọc nhìn vào bàn tay Thiêm đang vuốt vuốt lá thư:
         - Anh Thiêm, anh đi tìm Mơ về đây cho em.
         - Mơ về dưới nhà rồi, Ngọc ạ.
         - Không đúng ! Mơ đang ở đâu đó quanh chúng ta đây thôi. Anh đi tìm cô ấy cho em. Cô ấy cũng là phụ nữ … mà anh có hiểu gì phụ nữ đâu ? Đọc thư em biết, cô ấy cũng… Đi tìm cô ấy đi, anh Thiêm.
         *
         *    *
         Có gì phải viết thêm nữa không chị. Quả thật, đàn ông chúng tôi không thể hiểu hết về phụ nữ. Cũng như đến ngay cả các nhà bác học cũng không thể hiểu hết được tại sao hoa xoài lại trổ bông vào mùa khô, nắng nóng, và cây nhựa chuyển hóa ra sao để khi hoa xoài rụng xuống là cho ra đời  những trái xoài non, tơ, bầu bầu, xinh xinh. Để rồi khi xuân qua hè tới sẽ có những trái xoài vàng ươm, có vị chua chua, ngọt ngọt dễ thèm !
         
 
NĐT

MÙA HOA XOÀI - truyện ngắn của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( phần 1)

Truyện ngắn Trackbacks (0) Bản in góp ý (8)   
         Nhân kỷ niệm lần thứ 65 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tạp chí văn Nghệ quân đội đã phát hành số đặc biệt. Rất vui truyện ngắn MÙA HOA XOÀI   của tôi đã được chọn đăng số này. 

         

         MỘT MÙA HOA XOÀI
 
         truyện ngắn của NGUYỄN ĐỨC THIỆN 

         

         Tôi nhớ dạo đó là mùa khô. Bên bậc thềm của nhà văn hóa, chị reo lên gọi tôi:
         - Trời đất! Bông xoài rụng nhiều quá trời! Trước mặt tôi, những bông xoài lặng lẽ rụng xuống sau mỗi trận gió thổi ào qua. Dưới gốc cây là một thảm hoa vàng nhạt. Tôi ngước lên. Không hiểu sao, tôi bỗng có cảm giác là: từ sau những kẻ lá non tơ kia, đang từng chút một, rất từ từ sẽ tách ra những trái xoài non, bầu bầu, xinh xinh. Để rồi khi xuân qua, hè tới sẽ cho những trái xoài vàng ươm, có vị chua chua, ngọt ngọt dễ thèm. Nắng mùa khô gắt gao, gió mùa khô dào dạt, cây xoài chắt từ đâu cho mình cái mầu xanh kia và cho trái chín ngày mai?
         Tôi bảo chị:
         - Thế nào tôi cũng có chuyện viết về hoa xoài. Tôi sẽ tặng chị chuyện mà tôi sẽ viết. Chị đồng ý chớ !
         Và, hôm nay tôi viết. 

         I

         Thiêm và Mơ thong thả bước trên con đường chạy dọc bờ con kinh xáng. Trời đã về chiều… hàng cây điều đổ bóng xuống mặt nước. Xa ngoài đồng, nắng vẫn trang trải trên thảm lúa.Bộ quần áo bệnh viện rộng thùng thình trên người  Thiêm. Nước da đen xạm của người lính miền Đông đã phôi phai bớt sau hơn ba tháng Thiêm nằm bệnh viện. Gương mặt anh vẫn tái xanh. Hai mí mắt vẫn trĩu nặng. Mái tóc hớt cao làm cho anh có vẻ gầy ốm. Người ta chỉ có nhận ra vẻ hoạt bát của anh ở cái miệng rộng hay cười.Còn Mơ, cô không có một vẻ đẹp sắc xảo, nhưng ưa nhìn. Một cặp mắt mở to, trong sáng. Một sống mũi thẳng và cái miệng nhỏ có cặp môi tươi tắn. Chiếc áo bơ-lu trắng, tuy rộng vẫn không che dấu được một thân hình tròn lẳng khỏe mạnh.Họ đi bên nhau đã lâu. Chuyện dường như đã vãn. Im lặng làm bước chân của họ dù rất nhẹ vẫn nghe rõ mồn một. Gần đến cuối quãng đường, Mơ mới chợt hỏi :
         - Hồi trưa, anh Thiêm lại lên bác sĩ Khoa, phải không ?
         - Ừ !- Anh vẫn đòi về đơn vị sao ?
         - Thì Mơ biểu anh nên về đâu bây giờ? Xa anh em lâu quá rồi.
         Mơ không trả lời. Cô đưa mắt đuổi theo mấy con cò trắng phau đang xải cánh  ngoài cánh đồng ruộng tít tắp. Ngoài đó vẫn còn nắng. Không hiểu sao, Mơ chợt cảm thấy xốn xang.Thiêm nhập ngũ khá muộn. Khi đơn vị anh bay tới Đà Nẳng thì Sài Gòn đã giải phóng. Dạo đó, bạn bè đã có người trêu, gọi anh là: “ Lính đi nhặt đồ hộp”. Thiêm chưa kịp buồn thì được lệnh hành quân tiếp lên miệt biên giới Tây Ninh này. Anh trở thành lính miền Đông. Khẩu súng trên tay anh không thừa. Suốt ba năm chốt trụ biên giới với những cuộc đọ sức với kẻ thù mới đủ để anh tung hoành ngang dọc. Căm-Pu-Chia giải phóng, biên giới tạm yên, nhưng vẫn chưa hết những cuộc đụng đầu. Rừng đang yên lặng bỗng rộ lên một tràng súng, có khi chỉ đôi ba tiếng. Giữa trảng cỏ mênh mông, đầy gió, bỗng đột ngột chỉ xuất hiện vài cái bóng và sau đó là lựu đạn nổ. Sáng sớm, giữa trưa, chiều hôm, đêm khuya… Không gian một vùng biên giới lúc nào cũng căng như một sợi dây đàn. Ba tháng trước đây, đơn vị Thiêm đã có một trận đụng đầu như thế. Chúng nó ào lên chốt vào lúc giữa khuya. Trận chiến đấu kéo dài không lâu. Nhưng nó kết thúc vào lúc nào Thiêm không biết. Anh chỉ kịp nhận biết mình bị thương bởi một trái M79 nổ gần. Lúc tỉnh lại, anh mơ hồ nhận ra một vùng sáng đục của một căn phòng không rộng lắm. Anh gắng mở mắt. Một bàn tay đặt rất nhẹ lên vai anh, một giọng nói rất khẽ:
         - Anh nằm yên nhen! Cử động mạnh nguy hiểm lắm đó!
         Anh ráng đưa tay nắm lấy bàn tay đang đặt trên vai mình. Anh bắt gặp một cặp mắt trong suốt, dịu dàng nhìn vào mắt anh. Anh khó nhọc hỏi:
         - Tôi … đang ở đâu thế này?
         Cô gái trả lời:
         - Đây là Quân y viện Tây Ninh! Đừng động mạnh nhen anh!
         Từ hôm đó anh bắt đầu được nghe cô gái nói. Những lời khuyên của cô trở nên quá quen thuộc với anh. Ban đầu, anh nhắm mắt mà nghe lời. Nhưng những ngày sau đó, mỗi lần nghe lời khuyên là mỗi lần Thiêm chán nản. Lại thêm sự chăm sóc của cô nữa, khi thì cô bắt anh thay chiếc áo vừa mới dây một chút bụi bẩn, khi thì buộc anh đi cắt tóc, lúc thì mang kéo tới tận đầu giường cắt móng tay cho anh. Tới cả miếng cơm, miếng cháo, cô cũng bắt anh ăn một cách cẩn thận, ngồi canh cho đến tận miếng cuối cùng. Đã có lần anh bảo cô :" Khổ quá, tôi có phải con nít đâu?…”. Vậy mà cô ấy chỉ cười. Nhất là khi anh đã bắt đầu bình phục, chân tay nhúc nhắc được, đầu óc tỉnh táo hơn, anh càng khó chịu với sự chăm sóc quá tỷ mỷ ấy. Cho tới một hôm, không chịu được nữa, anh đã gắt lên :
         - Xin cô để cho tôi yên. Sống gì mà cứ như tù giam lỏng thế này. Mặc xác tôi. Nếu chết, tôi đã chết ở chiến trường rồi !….
         Cô gái đứng ngẩn ra nhìn anh. Cô không cười được nữa. Môi cô mím chặt. Nước mắt ấp lấy cặp mí, mòng mọng. Cô nhìn anh một lát rồi quay đi. Anh bạn giường bên nhìn anh chằm chằm. Cô gái đi khuất, anh ta la lên :
         - Ông kỳ cục thấy mẹ… Ông có quyền gì mà la người ta. Những lúc ông nằm chết giấc ra đó, giường cứt, chiếu đái, người ta phải lo, sao ông không dậy mà la hét. Người ta phải chăm ông như chăm trẻ sanh non tháng ấy, thế mà… hừ, kỳ cục …Thiêm hối hận. Anh chờ cô gái ấy đến. Nhưng suốt buổi chiều ấy, cô không tới. Hai ba hôm sau cô cũng không tới. Sự vắng mặt của cô gái làm Thiêm càng thêm áy náy. Thay cô là một cô gái khác, thấp, tròn, như hạt mít. Vừa đủ một tuần, cô gái lại xuất hiện. Cô tới bên anh, giọng nói nhẹ như gió thoảng :
         - Anh Thiêm ! Anh bớt nhiều rồi chớ!
         Thiêm trả lời, ngượng ngập:
         - Cám ơn Mơ. Tôi có khá hơn chút ít.
Cô lại dẹp cái giừơng  cho anh, vuốt lại cái gối cho phẳng, xếp lại mấy thứ chai, lọ ở chiếc bàn sắt trắng muốt. Bàn tay cô thoăn thoắt. Mấy lần hắng giọng, mãi Thiêm mới hỏi được một câu:
          
- Cô Mơ…  cô vẫn còn giận tôi…  
         - Hả! anh nói sao? –Cô gái nhìn anh đầy vẻ ngạc nhiên – Mà em biết giận anh cái gì chớ? 
         Ngừng một chút, mơ tiếp: 
         - Em biết lắm chớ! Các anh đang chiến đấu, đang hoạt động. Bây giờ phải nằm bó chết vậy… khó chịu lắm…  
         Thiêm nhìn Mơ. Một lời nói đó của Mơ thôi đủ an ủi anh. Mơ vẫn nói như giải thích:
         - Mấy hôm rồi má em bịnh. Em về qua nhà được mấy ngày. Buổi chiều ấy qua đi rất nhanh. Rồi thêm nhiều buổi chiều như thế. Không hiểu bằng con đường nào mà Mơ biết rất nhiều chuyện về anh, về cả những trận đánh có một, không hai của đời anh ngoài mặt trận. Chắc là từ những bài báo về các trận đánh trên biên giới có anh tham dự. Qua Mơ, anh là một bệnh nhân đặc biệt. Khi anh bất tỉnh các bác sỹ vẫn phải tiến hành mổ, lấy mãnh M79 trong phổi anh ra. Nhưng đường chuyển thương quá xa, anh bị viêm nặng nên đã bị cắt đi tới hai phần ba một bên phổi trái. Mơ được phân công đặc cách săn sóc anh. Mơ không kể, tự Thiêm cũng có thể hình dung được những nỗi vất vả của Mơ. Những cơn mê sảng, anh có Mơ bên cạnh. Vậy mà có lúc anh đã… Biết vậy, từ đó anh răm rấp nghe theo Mơ. Những lúc vết thương đau lại đột ngột, nghe Mơ, anh có thể nằm bất động ba, bốn giờ liền. Những lúc sốt cao, nghe Mơ, anh tựa vai Mơ ngồi cho đến sáng. Những lúc Thiêm buồn vì phải nằm chết một chỗ, Mơ thủ thỉ kể chuyện Thiêm nghe. Qua đó anh biết, quê Mơ ở dưới Trảng Bàng. Mảnh đất một thời anh dũng đánh Mỹ. Ơ đó, mỗi gốc cây, mỗi ngõ xóm, mỗi căn nhà đến tận bây giờ vẫn còn những kỷ niệm của những ngày chiến đấu xưa. Mơ hẹn Thiêm có việc về quê sẽ đưa Thiêm đến địa đạo, sẽ chui xuống đó để hiểu thêm Củ Chi. Anh trai cả của Mơ đã hy sinh từ ngày đánh Mỹ. Má Mơ, còn có Mơ và một đứa em trai, thì cả hai chị em đều tại ngũ. Ngày Mơ tình nguyện nhập ngũ, cơ quan quân sự huyện không chấp nhận vì em trai Mơ đã nhập ngũ trước đó rồi. Má Mơ đã đưa Mơ lên tận huyện giao thẳng cho anh sỹ quan tuyển quân và chao chát nói : “ Bay có quyền gì mà ngăn cản nó chứ. Tao già, nhưng tao còn tự lo được. Nó lớn nó phải lo nghĩa vụ của nó. Bay phải để cho nó đi… " Mơ được đi. Nhưng trên vẫn nghĩ tới người mẹ liệt sĩ nên điều động Mơ về quân y viện tỉnh, cho học lớp y tá… Hiểu thêm về Mơ, Thiêm bỗng thấy xuất hiện trong mình một cảm giác là lạ. Trống trải khi vắng Mơ. Xốn xang khi Mơ tới. Đôi lúc anh thấy giật mình vì những suy nghĩ  bạo dạn về Mơ. Khỏe dần, những buổi chiều trong phòng điều trị được thay bằng những chiều đi dạo dọc bờ kinh. Đã có một lần, Thiêm hỏi Mơ, giọng nhẹ lâng:
          
- Mơ…  con đường này dẫn mình đi tới đâu ? Mơ… 
         - Có hơn hai cây số thôi mà, anh Thiêm … 
         - Không…  là tôi… tôi muốn hỏi… Bữa đó, Thiêm đã đứng dừng lại, nhìn Mơ, Mơ ngẩng mặt nhìn lên. Nơi đứng lại đó có một cây xoài đang mùa trổ bông. Những chùm bông xoài sai chi chít nổi bật giữa tàn lá xanh mướt. Mỗi làn gió nhẹ thoảng qua, những cành bông bé xíu lẹ làng rớt xuống… Mơ yên lặng để mặc những cánh bông đó đậu nhẹ xuống mặt mình. Mơ cười, không nói thêm một lời… Vẫn có những chiều hôm hai người đi với nhau như thế. Và như thành thói quen, cứ đến gốc xoài đó, họ dừng lại. Dưới chân họ, thảm bông xoài mỗi ngày một dầy hơn, báo hiệu trên đầu họ sắp tới mùa cây đơm trái. Ba tháng qua đi. Hôm nay, họ lại đi với nhau trên con đường quen thuộc. Tới gốc xoài, hai người lại đứng lại bên nhau. Mơ hỏi Thiêm.
          
- Bác sỹ Khoa nói sao anh?
         Thiêm với tay ngắt một lá xoài và xoay xoay trên đầu ngón tay:
         - Có lẽ không lâu nữa đâu, anh sẽ được trở về đơn vị. Anh nhìn vào mắt Mơ. Có một nét buồn thoáng qua trong cặp mắt mở to ấy. Anh bỗng thấy thương thương cô gái ấy bấy lâu nay gần anh. Anh buông chiếc lá xoài và nắm lấy tay Mơ :
         - Sẽ còn gặp lại nhau mà Mơ… biết đâu, rồi đây…  
         Mơ cũng nhìn anh, lắc đầu. Chắc Mơ đoán được suy nghĩ của anh, cô nói khẽ:-          Đừng, đừng nghĩ vậy nghen…  anh Thiêm. Mơ rút tay về và chợt hỏi tiếp :
         - Em hỏi thiệt, anh Thiêm đừng giận nghen, anh Thiêm ?
         - Mơ cứ hỏi.
         - Có phải … đã có lần anh … yêu rồi, phải không ?
         - Sao Mơ hỏi vậy?- Đừng trách Mơ mà tội nghiệp. Hổm rày, phơi lại ba lô cho anh, Mơ thấy trong đó có một gói nhỏ. Anh gói kỹ lắm. Bên ngoài anh ghi dòng chữ : "Những lá thư không bao giờ đọc lại “. Mơ nghĩ, nhất định đó là thư của phụ nữ… Nên Mơ mới hỏi… 
         Thiêm không trả lời Mơ. Mơ đã gợi cho Thiêm nhớ tới một người. Một người mà mỗi lần nhớ tới là anh nuối tiếc. Một sự nuối tiếc muộn màng. Lát sau, Thiêm nói với Mơ, chậm rãi:
 
         - Đúng thế… đã có lần, Mơ ạ! Cho đến bây giờ… À  thôi, ta quay về kẻo muộn giờ. Mơ để anh nhớ lại thật kỹ, rồi anh sẽ kể Mơ nghe…  

          
         MINH HỌA CỦA VNQĐ
         II

         Biết kể cho Mơ nghe từ đâu? Từ đất quê miền Bắc xa xôi kia chăng? Hay là kể về con suối, đến mùa hoa kim anh nở trắng bờ, nơi có chiếc cầu treo lắt lẻo bắc qua, mà ngày nhỏ Thiêm và Ngọc, đứa học buổi sáng lớp trên, đứa học buổi chiều lớp dưới, đứa đi, đứa về thường vẫn gặp nhau? Hay là kể về những chiều râm ran tiếng nguyện cầu, những tiếng tróng trầm trầm báo ngày lễ trọng của sứ đạo Chợ Chu, nơi có nhà hai đứa ở hai đầu sân nhà thờ, ngày nào cũng gặp nhau trên chiếc chiếu dành cho lũ trẻ con ngồi xếp bằng đọc  kinh theo người lớn. Hay là kể về ngày Thiêm nhập ngũ, Ngọc đã đến, giúp đám bạn con trai nồi cơm, chảo rau cho bữa liên hoan  và bẽn lẽn cười khi nghe các bạn ghép đôi tên hai người, để thỉnh thoảng lại nhìn Thiêm, cái nhìn rất riêng đủ cho hai ngưới hiểu. Bắt đầu một tình cảm dành riêng cho nhau, giống như bất cứ một cảm tình của những cặp gái trai ở thôn quê, khi đã trải qua những năm tháng gần gũi từ thuở chăn trâu, cắt cỏ, lội rừng hái củi, từ buổi đến trường, đến những ngày lội đồng bắt cua, rồi thân rồi… yêu, mà vẫn chưa thể nói gì cùng nhau. Hôm ấy, dù ngồi cùng mâm cơm với bạn bè, nhưng Ngọc không ăn một miếng nào. Lúc chia tay, Ngọc đặt vào tay Thiêm một chiếc khăn tay trắng muốt, một tấm ảnh nhỏ, kèm theo một lời ngắn ngủi: "Anh cứ đi đi, em sẽ…" . Có nên kể cho Mơ nghe về những ngày ấy không? Hay là kể về những bức thư đã vượt cả ngàn cây số đến với Thiêm những bức thư không hề có dấu chấm, dấu phẩy, Thiêm cứ phải ngắt câu lấy mà vẫn như bị đuối hơi:"  Anh thân yêu - Em quyết định nhập ngũ - xóm mình, bọn con gái xin đi nhiều lắm – cái Thông – nhà bác Xam đi đợt trước rồi – em cũng sẽ đi – màu xanh áo lính sẽ làm em gần gũi anh hơn – thương anh hơn – yêu anh hơn – cuộc sống ấy… " Không, nếu kể thế thì dài lắm… Vậy thì bắc đầu từ đâu được .Trên giừơng bệnh, Thiêm vắt tay lên trán, khuya rồi. Xung quanh bạn bè đã ngủ cả. Bệnh viện yên ắng hẳn. Anh đèn ngoài hiên hắt vào làm mọi thứ trong phòng điều trị trắng đục, nhờ nhờ. Mọi khi, giờ này Mơ sẽ đến. Nếu hôm nay Mơ đến, Mơ lại trách anh vì sao không ngủ. Nhưng dù Mơ có trách thì anh cũng không làm sao ngủ được trong đêm nay. Anh đang nhớ, nhớ rõ mồn một, một khuôn mặt đôn hậu, cặp mắt hơi hiếng, cặp môi dầy, ít cười… Phải rồi, Thiêm sẽ kể Mơ nghe, kể như thế này…

         *
         *    *

         Thiêm đi tìm Ngọc…Rẽ vào con đường đi qua khu Giao Tế, dọc miết theo bờ một con sông, Thiêm tìm ra chiếc cầu phao sang núi Hột. Lại mất gần nữa giờ nữa đạp xe trên con đường xóc nảy người. Thiêm đến được một trạm gác đơn sơ, có một cây tre nhỏ chắn ngang đường. Đó là trường lái xe quân khu M . Anh nhờ chiến sĩ cảnh vệ gọi điện vào gặp Ngọc. Lát sao, một cô gái cao lớn chạy ra. Vừa trông thấy anh, cô gái reo lên:
         - Anh Thiêm, anh là anh Thiêm có phải không?
         Cô quên cả chào anh chiến sĩ cảnh vệ mà chạy tuột ra chỗ Thiêm đứng:
          
- Ngọc đi vắng…  ứ ! Anh không được buồn. Trưa nay nó sẽ về... 
         Cô ngoắt lại nói với chiến sĩ cảnh vệ:
          
- Anh ơi, đây là anh Thiêm, người…  của Ngọc đó. Để anh ấy vào chổ bọn em chờ Ngọc, nhé… Chiến sĩ cảnh vệ bật cười vì lối báo cáo nửa điều lệnh, nửa dân thường của cô gái và gật đầu đồng ý. Dù hơi thất vọng vì vắng Ngọc nhưng Thiêm rất vui vì sự đón tiếp hồn nhiên của cô gái. Vừa tới trước một dãy nhà lợp lá cọ với những bức tường đất mộc, thì bốn năm cô gái nữa ùa ra đón anh. Một cô đón tay anh chiếc xe đạp kèm theo một câu đùa:
          
- Thế nào, xe long hết ốc chưa, anh Thiêm 
         Những câu đùa khác lập tức rộ lên:
         - Không lo đâu anh Thiêm, đã có cái Ngọc nó căn chỉnh hộ. . . 
         - Anh Thiêm thật đúng là: "mấy núi cũng trèo” nhé !
         - Ăn hết cơm thôi tụi bay. Hôm nay cái Ngọc chẳng ăn cũng no rồi !
Thiêm bị bất ngờ, lúng túng chẳng trả lời ai trước, ai sau. Anh chỉ còn biết cười trừ. Dãy nhà dành cho tiểu đội con gái có khác chút ít ở những chùm hoa cắm ở đầu giừơng , những bức tranh cắt từ hoạ báo, hoặc tranh  những đứa trẻ con bụ bẫm, ngộ nghĩnh treo trên tường. Một chiếc bàn con kê ở giữa nhà được đặt cách có một bình hoa tươi rói. Cô gái ra đón anh vẫn là người mau miệng nhất nói với anh:
         - Anh cứ tự nhiên như ở nhà. Ngọc ở đây với tụi em nhưng lại thuộc tiểu đội lái xe bên hậu cần. Hôm nay nó đi Định Hoá chở lá. Chỉ trưa là nó về. Em là Thắng, “Thắng kều”. Em chả cao mà. Con bé dắt xe cho anh là cái Thuỷ “tròn “ . Con bé ngơ ngơ kia là cái Nghiệp… Chúng em bên nuôi quân. Binh chủng xoong, chảo, ấy mà…
Thiêm mau mắn làm quen với tất cả các cô gái. Ngọc được lòng tất cả mọi người, hay bởi giống bất cứ một đơn vị bộ đội nào, một người có khách tất cả cùng đón. Câu chuyện của các cô gái cứ xoắn lấy Ngọc. Vắng Ngọc, nhưng Thiêm được biết bao nhiêu điều về Ngọc. Anh biết Ngọc bây giờ cao lớn, cao lớn không thua gì cái cô “Thắng kều “ kia . Anh biết Ngọc trước cũng ở bên nuôi quân. Ngày nào Ngọc cũng giành lấy việc gánh cơm ra bãi tập lái xe cho anh em. Ở đấy, Ngọc leo lên xe, tò mò học lái. Các thầy giáo thấy Ngọc ham mê cũng chỉ bảo tận tình. Ngọc xin lái kiểm tra. Tết nguyên đán trước có chuyến hàng lá dong trên Đình Cả. Anh em lái xe, người đi dã ngoại, người đi phép vắng. Tiểu đoàn gọi Ngọc, cử thêm một học sinh đi theo. Ngọc đưa xe đi và về an toàn. Từ đó, ngọc sang tiểu đội lái xe hậu cần. Ngọc nói với bạn bè: " Tao sẽ lái xe cho thật giỏi để xin vào trong Nam, lái xe đi khắp trong đó tìm xem ông Thiêm nhà tao ông ấy nầm bẹp chỗ nào mà cấm thư từ gì cho tao cả.” Bạn bè Ngọc cho Thiêm biết: Ngọc rất hay kể về Thiêm, ngày nào cũng kể . Ngọc đang yêu…  

         ( còn nữa) 

         NĐT

BẠN GIÀ CHƠI THƠ ( tiếp theo - tác giả tập thể bạn già )

THƠ CỦA BẠN BÈ Trackbacks (0) Bản in góp ý (6)   
            Hôm nay đi Thành phố dự hội nghị. Bạn già gặp nhau tay bắt mắt mừng. Sau bao nhiêu chuyện hàn huyên, bỗng nổi hứng ghẹo nhau chơi. Được một trận cười thật vui. Bèn chép lại đưa lên chỗ BẠN GIÀ CHƠI THƠ này để mọi người cười cười chút…. Tại mấy cuộc chơi trước thấy bạn già buồn vì thơ qúa mà
         
         
         CỦ HÀNH
 

         Nhìn lên tóc chẳng còn xanh

         Nhìn xuống thì thấy củ hành còn tươi

         Lão ta cứ tủm tỉm cười

         Hành trồng đất lạ cứ tươi hoài hoài

         anh ơi em hỏi câu này

         Hành trồng đất lạ? đất này nơi nao?

         Vì chưa biết ở chỗ nào

         Nên hành chưa biết trồng vào đất mô

         đất mình mới xới sơ sơ

         Hành mà trồng xúông củ to tuyệt vời

         Kìa xem môi người ta cười

         hành còn chưa tỏ  la trời xanh ghê

         Hành trồng ở chỗ đất kia

         Rễ nhiều hơn củ , đem về ai ...xơi?

         Thấy rễ là đã mê rồi

         hễ mà thấy củ rã rời tay chân

         Ai kia chưa kịp định thần

         Hồn xiêu phách lạc tần ngần hành ơi

         Phong ba bão táp tơi bời

         Rễ đi đằng rễ, củ ơi còn gì?

         hành ngồi hành khóc tỉ ty

         Củ ơi củ hỡi mày đi đằng  nào

         bây giờ héo quắt thế sao

         nở ra một tý để chào nhau đi

         Hành ta bật tiếng cười khì

         Ngày mai sẽ biết ra gì hay không?

         Tập thể bạn già

Design by JuliettaRose Studio.
Powered by Vnweblogs.